THEO Ý CHÚA
Ông Năm ngồi
buồn thiu trước cửa nhà mình, chưa bao giờ ông thất vọng như vậy, mà lại thất vọng
cho chính mình mới chết chứ. Tuổi cũng chưa đến nổi già để nói rằng ông quên
trước quên sau, ông cũng vốn là người cẩn thận có tiếng, mọi việc bao giờ ông
cũng coi ngó trước sau cho đến khi hoàn chỉnh, đồ đạc ông luôn sắp xếp ngăn nắp,
bởi vậy khi lấy một cái gì ông cũng không phải vất vả kiếm tìm.
Ấy vậy mà
sáng nay ông đã để mất một vật quí báu. Sau giờ nhóm, với tâm trạng vui vẻ, ông
ghé vào quán nước con bé Hải ngồi chơi với nó một tí. Gọi là bé nhưng thật ra Hải
cũng lớn rồi, trên hai mươi, chỉ tội là mồ côi sớm, nên phải một mình bươn chải
với cuộc sống muôn sắc muôn màu này. Trước đây, nó cũng đã đi làm công nhân nhiều
nơi, nhưng rồi có lẽ do không thể xa quê hương được nên trở về lại căn nhà nhỏ
đầu xóm, mở một quán nước để mưu sinh. Ba của nó trước đây là bạn ông, dù rằng
ông nhỏ hơn vài ba tuổi, nhưng cũng là cùng một thời với nhau, thời đại của những
người sinh ra trong khói lửa chiến tranh… Ông rất thương nó, nên thỉnh thoảng
ghé thăm chơi, ngồi uống miếng nước, đồng thời động viên, chỉ vẽ một vài điều
như một người cha đối với con. Sáng nay, nó đi nhà thờ về sớm hơn ông, ông còn
phải đến thăm mấy người bạn già, gợi lại chuyện ngày xưa, những câu chuyện ít
nhiều cũng làm lòng ông ấm lên bởi nó mang khá nhiều kỷ niệm của một thời đáng
nhớ. Và cũng chính vì cái tâm trạng vui vẻ đó mà ông đã quên lững mất quyển
Kinh thánh trong quán nước bé Hải, mãi cho đến chiều, khi cần soạn một bài chia
sẻ cho Chi phái, ông mới nhớ ra rằng mình đã để quên. Khi hỏi bé Hải thì nó nói
không biết, bởi sáng nay có nhiều khách…
Quyển Kinh
thánh đối với ông như một báu vật, không phải chỉ về nghĩa thuộc linh thôi. Đây
là quyển Kinh thánh đã theo ông suốt mấy mươi năm, từ thời thanh niên đến bây
giờ, khi ông nhận được phần thưởng học KT từ Ms Quản nhiệm. Quyển KT có chi chít
những lời ghi chú, khi bằng bút chì, khi bằng bút bi… những ý nghĩa sâu xa mà
các vị Tôi tớ Chúa đã giảng, chính nhờ những lời ghi chú này mà khi rảnh rỗi
ông có thể nghiền ngẫm thêm để mở mang vốn liếng thuộc linh của mình, ông có thể
nhờ đó mà chia sẻ cho mọi người một vài ý nhỏ, nhưng xúc tích và đầy sự dạy dỗ
nhờ kết hợp với kinh nghiệm sống của mình. Quyển KT này như một người bạn không
thể thiếu của ông trong những năm tháng theo Chúa, ờ mà cũng không phải bạn, nó
như một người thấy dạy dỗ, bởi ông đã học được khá nhiều điều từ trong những
con chữ tưởng chừng như vô tri, vô giác này…
Cũng nhờ
quyển Kinh thánh này mà ông đã làm chứng cho Hải trở lại với Chúa. Thật ra gia
đình Hải cũng đã từng đi nhà thờ một thời, sau khi ba mẹ mất, mấy anh em không
người nâng đỡ, kinh tế khó khăn, lưu lạc mỗi đứa một nơi, rồi không còn ai đi
nhóm lại nữa. Khi Hải trở về từ miền trong, khá tiều tụy và thiếu định hướng.
Ông đã chăm lo và động viên cô bé. Ông lần giở quyển Kinh thánh ra, chỉ cho Hải
về câu chuyện người con trai hoang đàng, nói cho Hải nhớ về tình yêu bao la mà
Chúa dành cho mỗi người, dẫu có lầm lạc đến đâu, nhưng nếu biết tìm về thì Chúa
cũng sẵn sang tha thứ, dang rộng vòng tay yêu thương chào đón, giống như hình ảnh
người cha đối với người con trai trở về sau những năm tháng lầm lỗi. Hải xúc động
lắm và từ đó, bằng lòng ăn năn trở lại với Chúa.
Không hiểu
ý Chúa thế nào, nhưng ông rất buồn. Có lẽ ông sẽ phải bắt đầu lại từ đầu, với một
quyển Kinh thánh mới. Thật là vất vả, bởi ông đã mất đi một gia tài quí báu.
Ông thấy Chúa sao bất công với ông quá, bởi bản thân rất cẩn thận, và bao nhiêu
năm nay hầu như chưa bao giờ đánh mất một cái gì, quên một điều gì, huống hồ là
quyển KT đối với ông là vô cùng thân thiết. Ông không hiểu Chúa có chương trình
gì cho ông, bài học gì cho ông, hay là Chúa nhắc nhỡ ông không nên quá phụ thuộc
vào quyển Kinh thánh được ghi chú khá nhiều, hay là trong đó ông có ghi điều gì
sai mà Chúa không muốn cho ông đọc nó. Nghĩ mãi không ra, ông cũng đành chịu,
nhưng cái hỉnh ảnh cuốn KT yêu ấy cứ ám ảnh mãi trong trí não ông…
Sau khi Ms
quản nhiệm HT giới thiệu, một người đàn ông trung niên bước lên bục hướng dẫn
có vài lời tâm sự cùng HT. Ông tạ ơn Chúa đã cứu ông và cho ông thành đạt như
hôm nay. Trước khi gặp Chúa, ông đang thất bại trong kinh doanh, nợ nần chồng chất,
lòng dạ vô cùng chán nản, chỉ muốn tìm đến cái chết, vậy mà Chúa đã cứu ông. Một
ngày nọ, có việc đi ngang qua đây, ông ghé vào một quán nước nhỏ ven đường, ngồi
nghỉ ngơi. Tình cờ ông thấy một quyển KT của ai để quên trên bàn, lúc đó ông
không biết đây là quyển sách như thế nào nhưng cũng tò mò mở ra xem thử. Ông đọc
được câu KT: “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các
ngươi được yên nghỉ. Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của
ta, và học theo ta; thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ. Vì ách ta dễ chịu và gánh ta nhẹ nhàng.”.
Chính từ câu KT này đã hấp dẫn ông và ông đọc được thêm khá nhiều câu khác. Ông
chính là kẻ mệt mỏi và gánh nặng đây, và điều ông cần chính là tìm một chỗ yên
nghỉ cho tâm linh, cho con người ông. Càng đọc ông càng thấm thía lời Chúa
khuyên dạy, ông cảm ơn Chúa vì dù là người chưa tin Chúa nhưng nhờ có những
dòng chữ ghi chú bên lề quyển KT mà ông có thể hiểu được một phần nào lời Chúa
phán dạy với ông, rồi ông quyết định tin Chúa. Vì vậy, khi về lại thành phố,
ông đã đến nhà thờ, xin trở thành một người con Chúa. Cuộc đời của ông đổi thay
từ đó, công việc làm ăn đã dần hồi phục. Rồi qua ông, cả nhà ông đã biết đến
Chúa Jêsus và hiện nay họ đang nhóm cùng với một HT nhỏ tại thành phố. Ông đã
trưởng thành rất nhiều, đã làm chứng, dẫn dắt được nhiều người tin Chúa. Rất
nhiều năm rồi, ông muốn trở lại nơi đây để tìm chủ nhân của quyển KT đã nằm
trên chiếc bàn nước năm xưa để ngỏ lời cám ơn mà không có dịp, nay ông quyết
chí phải đi tìm cho được, sợ thời gian dần trôi sẽ làm mất đi cơ hội. Sỡ dĩ ông
biết HT này vì trong quyển KT có con dấu của HT…
Ngồi ở dưới
này mà ông Năm nước mắt cứ tuôn trào, trong lòng ông vui lắm, niềm vui thật khó
tả như chưa bao giờ có được. Bây giờ ông đã hiểu được ý Chúa, Chúa muốn dùng
quyển KT của ông để làm việc lớn hơn những việc ông đã làm, vậy mà ông không hiểu,
đã buông lời oán trách Ngài. Thật con có lỗi với Ngài. Đã nhiều năm trôi qua,
lâu lâu ông lại nhớ đến quyển KT đó thì tự nhiên ông rất buồn, quyển KT mới
không thể nào thay thế được dù rằng nó đã rất cũ, long bìa, nhưng lại chất chứa
biết bao nhiêu kỷ niệm của ông… Ông không ngờ nổi buồn bao năm nay của ông lại
được kết thúc bằng một niềm vui vô bờ bến như vậy, Chúa thật diệu kỳ, Ngài có
chương trình cho mỗi người, mà chúng ta không thể hiểu hết được. Chúa biết, ông
dầu không có quyển Kinh thánh đó thì vẫn có thể đi nhóm lại, vẫn có thể giữ vững
đức tin, và Chúa cũng biết có một người cần quyển Kinh thánh đó hơn ông, và qua
cuộc đời của người đó, công việc Chúa lại được phát triển hơn. Ông cũng không
ngờ những gì nhỏ bé của mình lại làm được một việc lớn cho Chúa, đưa một linh hồn
trở lại với Ngài. Một sự mất mát nhỏ của người này trong ý Chúa, lại là một điều
lợi lớn lao cho Hội thánh Chúa. Xin Chúa cho con được mất mát theo ý Chúa…
�M 8 g � �� hb� Chín, tôi và mấy đứa em… Thời gian và chiến tranh
đã làm cho cái đại gia đình đó phân tán, tuổi ngoại đã ngoài chín mươi, người mẹ
của chín đưa con, vậy mà phải lần lượt đưa tiễn tám người con ra đi…
Hồi xưa,
ngoại rất khó. Má tôi nói hồi trẻ, ngoại còn khó hơn, mười phần bây giờ còn một,
con cháu trong nhà ai cũng sợ. Vậy mà sau khi ba má tôi qua đời, ngoại
thay đổi hẳn, thương con, thương cháu một cách kỳ lạ. Khi tôi đến với Duyên, ai
cũng phản đối, kể cả một số người trong Hội thánh, bởi lúc đó tôi mới ra trường,
hoàn cảnh khó khăn, ba má đã qua đời. Duyên cũng vậy, cũng chẳng hơn gì tôi, chính
vì vậy mà mọi người lại sợ chúng tôi khổ bởi không có nơi nào để nương tựa… Tôi
và Duyên gặp nhau trong một buổi nhóm thông công thanh niên, lúc mới quen hầu
như tôi không biết về hoàn cảnh của nàng, chỉ sau khi yêu rồi mới biết. Tuy vậy,
Duyên là người rất biết mình, nàng không chịu chấp nhận lời của tôi vì sợ thiệt
thòi cho tôi nhiều… Ai cũng nói ra cho tôi, tuy vậy tôi cũng biết họ thương
tôi, lo lắng cho tôi. Chỉ riêng mình ngoại, khi nghe chuyện của tôi, ngoại im lặng
một hồi lâu rồi nói: tình duyên là cái số trời định, nếu con thương nó, thì cứ
tới, người ta nói thì chuyện của họ, nhưng hai đứa phải sống cho đàng hoàng, cố
gắng làm ăn rồi cũng không đến nổi gì đâu…
Ngày đám cưới
tôi, ngoại không tới được, vẫn gởi quà cho tôi. Sau này, mỗi lần chúng tôi về
thăm, ngoại rất mừng, ngoại thương Duyên nhiều lắm, ngoại nói ngoại thích cái
khuôn mặt phúc đức của nàng, cái giọng nói nhỏ nhẹ, và cái tính chăm chỉ, chịu
khó của nàng. Tôi mừng vì nàng đã nhanh chóng hòa nhập được vào cái gia đình nhỏ
bé của tôi, tìm được niềm vui bên ngoại, người mà tôi thương yêu nhất.
Chúng tôi
cũng muốn ở lại với ngoại vài ngày nhưng công việc không cho phép. Tôi vừa nhận
công tác tại thành phố, Duyên cũng vào tranh thủ xin việc làm luôn.
-
Ba má con mất rồi, chừ
con chỉ có mình ngoại với dì Chín… con ước mong ngoại tin Chúa để khi ngoại
trăm tuổi còn gặp được ba má con trên thiên đàng.
Ngoại nhìn
tôi một hồi lâu, rưng rưng nước mắt. Ngoại cười buồn:
Cái thằng
này, răn không lo cho mình mà lo cho ngoại miết rứa. Thôi, hai đứa lo chuẩn bị
rồi đi. Đồ đạc thì giữ gìn cẩn thận, lỡ mất thì không có mà dùng. Vô tới nơi
thì điện cho dì Chín nghe. Sức khỏe là trên hết con nợ, làm chi thì làm mà cũng
phải giữ gìn sức khỏe, ăn uống vô…
Con đường về
quê một lần nữa khép lại sau lưng tôi, tôi biết rằng chuyến đi này không giống
như những lần trước, lần này tôi đã có gia đình và bắt đầu một cuộc sống mới.
Những hàng tre cũng ngã đầu nghiêng bóng giữa trưa hè như vẫy tay chào, một kiểu
chào tạm biệt thân thương để tiễn một người con quê hương bắt đầu cuộc hành
trình xa xứ. Cánh đồng như vừa thức giấc sau những ngày say ngủ, những hạt nắng
tròn trịa khẻ len vào từng khe lá nhỏ cành cây ven đường, thời gian có lẽ vừa dừng
lại một vài bước chân, tôi cũng không hiểu vì sao con đường đất nhỏ hôm nay lại
đáng yêu quá như vậy, vạt cỏ bạc màu vàng úa, mùi đất nồng hương lá trong ánh nắng
của một vùng quê mẹ… Con suối nhỏ với chiếc cầu tre của những ngày hè tuổi học
trò, năm tháng đó hình như còn đọng lại dưới chân cầu dẫu dòng nước vẫn đêm
ngày tuôn chảy. Chiếc cầu tre lắc lư, dòng suối nhỏ với những lần đi chơi, đi tắm…
có lẽ sẽ theo tôi suốt năm tháng cuộc đời, nó không chỉ là những kỷ niệm của một
thời học trò vô tư, trong sáng mà là những nét riêng của một vùng quê đã đi vào
thời xa vắng, vùng quê này chứa đựng cả hình ảnh ba má tôi, ngoại, dì và các cậu
tôi, những biểu tượng của tình thương đã trở thành máu thịt trong con người tôi
hôm nay… Rồi cuối cùng con đường nhỏ cũng khép lại, Duyên ngồi bên tôi không
nói một lời vì nàng biết những lúc này nên dành cho tôi một khoảng trống để hồi
niệm, để tìm về một chút yêu thương từ những gì còn lại trong hiện tại, bởi
chúng tôi biết rằng, nếu mình không gìn giữ lại thì những hình ảnh đó sẽ mãi
mãi mất đi như không bao giờ tồn tại trong cuộc sống của mình. Chắc cũng lâu lắm
mới về quê thăm ngoại được, rồi cũng không hiểu khi tôi về ngoại có còn khỏe
như hôm nay không, nghĩ đến vậy mà thấy lo. Tôi chỉ mong sao ngoại ở với tôi
càng lâu càng tốt, để thấy những đứa chắt của ngoại lớn lên, để cho nó có một
niềm an ủi, dẫu không còn ông bà nội, ngoại thì cũng còn có bà cố luôn thương
yêu chúng nó. Tôi biết, lúc đó ngoại sẽ vui lắm khi bên ngoại có thêm vài đứa
cháu chắt, và cũng mong rằng niềm vui đó sẽ làm vơi đi nổi nhọc nhằn năm tháng
của ngoại trong những ngày tháng cuối đời…
Vào thành
phố, công việc cứ xoay quần chúng tôi như chong chóng. Ổn định chỗ ở, chỗ làm,
sinh hoạt… Chúng tôi sinh hoạt với một Hội thánh nhỏ, vùng ngoại ô, anh em ở
đây cũng toàn là người phương xa đến nên khá chân tình và hòa đồng, bởi hoàn
cành ai cũng như nhau. Chúng tôi hầu như không có thời gian để về quê thăm ngoại
nữa. Chỉ trông đến tết về thăm ngoại, vậy mà xe cộ đi đâu phải dễ, đành phải hẹn
lần nay lần mai vậy. Lâu lâu, tôi lại điện thoại về thăm hỏi sức khỏe ngoại và
dì Chín, mấy đứa em. Thời gian này ngoại hay đau bởi tuổi cũng đã quá cao rồi,
chắc ngoại cũng buồn vì con cháu không còn ai bên cạnh. Di Chín thì phần lo
chăm sóc ngoại, phần lo cho mấy đứa nhỏ ăn học, chắc cũng vất vả lắm. Tôi cũng
thấu hiểu được một phần nào nổi buồn của dì, của ngoại khi chiều về đêm xuống,
cả ngôi nhà vườn rộng lớn chỉ có mấy con người nhỏ bé… đùm bọc nhau trong tình
yêu thương…
Nhận được
điện thoại của dì, tôi và Duyên vội xin phép nghỉ việc về ngay. Khi tôi về
đến nơi thì ở nhà rất đông người, có Mục sư và các tín hữu trong Hội thánh đến
dự lễ tang. Dì Chín nói với tôi, vài tháng trước khi qua đời ngoại có biểu dì dẫn
đi nhà thờ. Rồi mấy hôm trước ngoại có mời Mục sư đến nhà, xin ổng cầu nguyện
giúp ngoại, cho ngoại “tin theo Chúa” để được gặp ba má thằng Vũ bên kia, dì
nói trong nước mắt. Dì cũng đã đi nhà thờ rồi. Tôi cũng khóc, nhưng trong lòng
rất vui vì vào những giờ phút cuối đời, ngoại đã bằng lòng tiếp nhận Chúa theo
như mong ước của tôi. Những ngày tháng qua, ngoại đau nặng nhưng không cho dì
Chín báo tin cho tôi, ngoại sợ ảnh hưởng công việc làm của tôi. Chỉ khi ngoại
thấy không thể qua khỏi được thì mới nói dì Chín điện cho tôi, nhưng tôi về
không kịp để gặp ngoại lần cuối. Nghe dì nói ngoại ra đi rất thanh thản, rất nhớ
con, ngoại thường biểu dì lấy cái hình cũ của con ra xem rồi nói, nó giống y hệt
má nó…
Vị Mục sư đến
bên tôi an ủi, ngoại em rất tốt. Những ngày cuối đời, cụ đã tin Chúa. Thật ra cụ
hiểu biết khá nhiều về giáo lý, hỏi ra mới biết cụ đã có lòng hướng về Chúa đã
lâu nhưng chưa có dịp, cho nên có thể nói cụ tin Chúa thật sự. Dì Chín sực nhớ,
vội lấy trong tủ ra một cái hộp nhỏ, nói là ngoại để dành cho tôi, không biết
cái gì. Tôi, Duyên và dì cùng mở ra thì thấy ở trong toàn là tiền lẻ, những tờ
giấy bạc đủ loại mệnh giá, cũ có, mới có, mà ngoại dành dụm bấy lâu cho tôi,
nói là để cho thằng Vũ đi làm “cái việc của nhà thờ”. Tôi òa lên khóc nức nở,
con cám ơn ngoại nhiều lắm, cả một đời ngoại đã lo cho ba má con rồi bây giờ
ngoại vẫn lo cho con cho dù tuổi già sức yếu. Con mong rằng ngoại sẽ được gặp
ba má con trên thiên đàng phước hạnh mà Chúa đã dành cho ngoại, cho má, cho ba…
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét