Thứ Tư, 20 tháng 2, 2013

THEO Ý CHÚA


THEO Ý CHÚA


Ông Năm ngồi buồn thiu trước cửa nhà mình, chưa bao giờ ông thất vọng như vậy, mà lại thất vọng cho chính mình mới chết chứ. Tuổi cũng chưa đến nổi già để nói rằng ông quên trước quên sau, ông cũng vốn là người cẩn thận có tiếng, mọi việc bao giờ ông cũng coi ngó trước sau cho đến khi hoàn chỉnh, đồ đạc ông luôn sắp xếp ngăn nắp, bởi vậy khi lấy một cái gì ông cũng không phải vất vả kiếm tìm.
Ấy vậy mà sáng nay ông đã để mất một vật quí báu. Sau giờ nhóm, với tâm trạng vui vẻ, ông ghé vào quán nước con bé Hải ngồi chơi với nó một tí. Gọi là bé nhưng thật ra Hải cũng lớn rồi, trên hai mươi, chỉ tội là mồ côi sớm, nên phải một mình bươn chải với cuộc sống muôn sắc muôn màu này. Trước đây, nó cũng đã đi làm công nhân nhiều nơi, nhưng rồi có lẽ do không thể xa quê hương được nên trở về lại căn nhà nhỏ đầu xóm, mở một quán nước để mưu sinh. Ba của nó trước đây là bạn ông, dù rằng ông nhỏ hơn vài ba tuổi, nhưng cũng là cùng một thời với nhau, thời đại của những người sinh ra trong khói lửa chiến tranh… Ông rất thương nó, nên thỉnh thoảng ghé thăm chơi, ngồi uống miếng nước, đồng thời động viên, chỉ vẽ một vài điều như một người cha đối với con. Sáng nay, nó đi nhà thờ về sớm hơn ông, ông còn phải đến thăm mấy người bạn già, gợi lại chuyện ngày xưa, những câu chuyện ít nhiều cũng làm lòng ông ấm lên bởi nó mang khá nhiều kỷ niệm của một thời đáng nhớ. Và cũng chính vì cái tâm trạng vui vẻ đó mà ông đã quên lững mất quyển Kinh thánh trong quán nước bé Hải, mãi cho đến chiều, khi cần soạn một bài chia sẻ cho Chi phái, ông mới nhớ ra rằng mình đã để quên. Khi hỏi bé Hải thì nó nói không biết, bởi sáng nay có nhiều khách…
Quyển Kinh thánh đối với ông như một báu vật, không phải chỉ về nghĩa thuộc linh thôi. Đây là quyển Kinh thánh đã theo ông suốt mấy mươi năm, từ thời thanh niên đến bây giờ, khi ông nhận được phần thưởng học KT từ Ms Quản nhiệm. Quyển KT có chi chít những lời ghi chú, khi bằng bút chì, khi bằng bút bi… những ý nghĩa sâu xa mà các vị Tôi tớ Chúa đã giảng, chính nhờ những lời ghi chú này mà khi rảnh rỗi ông có thể nghiền ngẫm thêm để mở mang vốn liếng thuộc linh của mình, ông có thể nhờ đó mà chia sẻ cho mọi người một vài ý nhỏ, nhưng xúc tích và đầy sự dạy dỗ nhờ kết hợp với kinh nghiệm sống của mình. Quyển KT này như một người bạn không thể thiếu của ông trong những năm tháng theo Chúa, ờ mà cũng không phải bạn, nó như một người thấy dạy dỗ, bởi ông đã học được khá nhiều điều từ trong những con chữ tưởng chừng như vô tri, vô giác này…
Cũng nhờ quyển Kinh thánh này mà ông đã làm chứng cho Hải trở lại với Chúa. Thật ra gia đình Hải cũng đã từng đi nhà thờ một thời, sau khi ba mẹ mất, mấy anh em không người nâng đỡ, kinh tế khó khăn, lưu lạc mỗi đứa một nơi, rồi không còn ai đi nhóm lại nữa. Khi Hải trở về từ miền trong, khá tiều tụy và thiếu định hướng. Ông đã chăm lo và động viên cô bé. Ông lần giở quyển Kinh thánh ra, chỉ cho Hải về câu chuyện người con trai hoang đàng, nói cho Hải nhớ về tình yêu bao la mà Chúa dành cho mỗi người, dẫu có lầm lạc đến đâu, nhưng nếu biết tìm về thì Chúa cũng sẵn sang tha thứ, dang rộng vòng tay yêu thương chào đón, giống như hình ảnh người cha đối với người con trai trở về sau những năm tháng lầm lỗi. Hải xúc động lắm và từ đó, bằng lòng ăn năn trở lại với Chúa.
Không hiểu ý Chúa thế nào, nhưng ông rất buồn. Có lẽ ông sẽ phải bắt đầu lại từ đầu, với một quyển Kinh thánh mới. Thật là vất vả, bởi ông đã mất đi một gia tài quí báu. Ông thấy Chúa sao bất công với ông quá, bởi bản thân rất cẩn thận, và bao nhiêu năm nay hầu như chưa bao giờ đánh mất một cái gì, quên một điều gì, huống hồ là quyển KT đối với ông là vô cùng thân thiết. Ông không hiểu Chúa có chương trình gì cho ông, bài học gì cho ông, hay là Chúa nhắc nhỡ ông không nên quá phụ thuộc vào quyển Kinh thánh được ghi chú khá nhiều, hay là trong đó ông có ghi điều gì sai mà Chúa không muốn cho ông đọc nó. Nghĩ mãi không ra, ông cũng đành chịu, nhưng cái hỉnh ảnh cuốn KT yêu ấy cứ ám ảnh mãi trong trí não ông…


Sau khi Ms quản nhiệm HT giới thiệu, một người đàn ông trung niên bước lên bục hướng dẫn có vài lời tâm sự cùng HT. Ông tạ ơn Chúa đã cứu ông và cho ông thành đạt như hôm nay. Trước khi gặp Chúa, ông đang thất bại trong kinh doanh, nợ nần chồng chất, lòng dạ vô cùng chán nản, chỉ muốn tìm đến cái chết, vậy mà Chúa đã cứu ông. Một ngày nọ, có việc đi ngang qua đây, ông ghé vào một quán nước nhỏ ven đường, ngồi nghỉ ngơi. Tình cờ ông thấy một quyển KT của ai để quên trên bàn, lúc đó ông không biết đây là quyển sách như thế nào nhưng cũng tò mò mở ra xem thử. Ông đọc được câu KT: “Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ. Ta có lòng nhu mì, khiêm nhường; nên hãy gánh lấy ách của ta, và học theo ta; thì linh hồn các ngươi sẽ được yên nghỉ.  Vì ách ta dễ chịu và gánh ta nhẹ nhàng.”. Chính từ câu KT này đã hấp dẫn ông và ông đọc được thêm khá nhiều câu khác. Ông chính là kẻ mệt mỏi và gánh nặng đây, và điều ông cần chính là tìm một chỗ yên nghỉ cho tâm linh, cho con người ông. Càng đọc ông càng thấm thía lời Chúa khuyên dạy, ông cảm ơn Chúa vì dù là người chưa tin Chúa nhưng nhờ có những dòng chữ ghi chú bên lề quyển KT mà ông có thể hiểu được một phần nào lời Chúa phán dạy với ông, rồi ông quyết định tin Chúa. Vì vậy, khi về lại thành phố, ông đã đến nhà thờ, xin trở thành một người con Chúa. Cuộc đời của ông đổi thay từ đó, công việc làm ăn đã dần hồi phục. Rồi qua ông, cả nhà ông đã biết đến Chúa Jêsus và hiện nay họ đang nhóm cùng với một HT nhỏ tại thành phố. Ông đã trưởng thành rất nhiều, đã làm chứng, dẫn dắt được nhiều người tin Chúa. Rất nhiều năm rồi, ông muốn trở lại nơi đây để tìm chủ nhân của quyển KT đã nằm trên chiếc bàn nước năm xưa để ngỏ lời cám ơn mà không có dịp, nay ông quyết chí phải đi tìm cho được, sợ thời gian dần trôi sẽ làm mất đi cơ hội. Sỡ dĩ ông biết HT này vì trong quyển KT có con dấu của HT…

Ngồi ở dưới này mà ông Năm nước mắt cứ tuôn trào, trong lòng ông vui lắm, niềm vui thật khó tả như chưa bao giờ có được. Bây giờ ông đã hiểu được ý Chúa, Chúa muốn dùng quyển KT của ông để làm việc lớn hơn những việc ông đã làm, vậy mà ông không hiểu, đã buông lời oán trách Ngài. Thật con có lỗi với Ngài. Đã nhiều năm trôi qua, lâu lâu ông lại nhớ đến quyển KT đó thì tự nhiên ông rất buồn, quyển KT mới không thể nào thay thế được dù rằng nó đã rất cũ, long bìa, nhưng lại chất chứa biết bao nhiêu kỷ niệm của ông… Ông không ngờ nổi buồn bao năm nay của ông lại được kết thúc bằng một niềm vui vô bờ bến như vậy, Chúa thật diệu kỳ, Ngài có chương trình cho mỗi người, mà chúng ta không thể hiểu hết được. Chúa biết, ông dầu không có quyển Kinh thánh đó thì vẫn có thể đi nhóm lại, vẫn có thể giữ vững đức tin, và Chúa cũng biết có một người cần quyển Kinh thánh đó hơn ông, và qua cuộc đời của người đó, công việc Chúa lại được phát triển hơn. Ông cũng không ngờ những gì nhỏ bé của mình lại làm được một việc lớn cho Chúa, đưa một linh hồn trở lại với Ngài. Một sự mất mát nhỏ của người này trong ý Chúa, lại là một điều lợi lớn lao cho Hội thánh Chúa. Xin Chúa cho con được mất mát theo ý Chúa…
�M 8 g � �� hb� Chín, tôi và mấy đứa em… Thời gian và chiến tranh đã làm cho cái đại gia đình đó phân tán, tuổi ngoại đã ngoài chín mươi, người mẹ của chín đưa con, vậy mà phải lần lượt đưa tiễn tám người con ra đi…

Hồi xưa, ngoại rất khó. Má tôi nói hồi trẻ, ngoại còn khó hơn, mười phần bây giờ còn một, con cháu trong nhà ai cũng sợ.  Vậy mà sau khi ba má tôi qua đời, ngoại thay đổi hẳn, thương con, thương cháu một cách kỳ lạ. Khi tôi đến với Duyên, ai cũng phản đối, kể cả một số người trong Hội thánh, bởi lúc đó tôi mới ra trường, hoàn cảnh khó khăn, ba má đã qua đời. Duyên cũng vậy, cũng chẳng hơn gì tôi, chính vì vậy mà mọi người lại sợ chúng tôi khổ bởi không có nơi nào để nương tựa… Tôi và Duyên gặp nhau trong một buổi nhóm thông công thanh niên, lúc mới quen hầu như tôi không biết về hoàn cảnh của nàng, chỉ sau khi yêu rồi mới biết. Tuy vậy, Duyên là người rất biết mình, nàng không chịu chấp nhận lời của tôi vì sợ thiệt thòi cho tôi nhiều… Ai cũng nói ra cho tôi, tuy vậy tôi cũng biết họ thương tôi, lo lắng cho tôi. Chỉ riêng mình ngoại, khi nghe chuyện của tôi, ngoại im lặng một hồi lâu rồi nói: tình duyên là cái số trời định, nếu con thương nó, thì cứ tới, người ta nói thì chuyện của họ, nhưng hai đứa phải sống cho đàng hoàng, cố gắng làm ăn rồi cũng không đến nổi gì đâu…

Ngày đám cưới tôi, ngoại không tới được, vẫn gởi quà cho tôi. Sau này, mỗi lần chúng tôi về thăm, ngoại rất mừng, ngoại thương Duyên nhiều lắm, ngoại nói ngoại thích cái khuôn mặt phúc đức của nàng, cái giọng nói nhỏ nhẹ, và cái tính chăm chỉ, chịu khó của nàng. Tôi mừng vì nàng đã nhanh chóng hòa nhập được vào cái gia đình nhỏ bé của tôi, tìm được niềm vui bên ngoại, người mà tôi thương yêu nhất. 
Chúng tôi cũng muốn ở lại với ngoại vài ngày nhưng công việc không cho phép. Tôi vừa nhận công tác tại thành phố, Duyên cũng vào tranh thủ xin việc làm luôn. 
-      Ba má con mất rồi, chừ con chỉ có mình ngoại với dì Chín… con ước mong ngoại tin Chúa để khi ngoại trăm tuổi còn gặp được ba má con trên thiên đàng.
Ngoại nhìn tôi một hồi lâu, rưng rưng nước mắt. Ngoại cười buồn:
Cái thằng này, răn không lo cho mình mà lo cho ngoại miết rứa. Thôi, hai đứa lo chuẩn bị rồi đi. Đồ đạc thì giữ gìn cẩn thận, lỡ mất thì không có mà dùng. Vô tới nơi thì điện cho dì Chín nghe. Sức khỏe là trên hết con nợ, làm chi thì làm mà cũng phải giữ gìn sức khỏe, ăn uống vô…

Con đường về quê một lần nữa khép lại sau lưng tôi, tôi biết rằng chuyến đi này không giống như những lần trước, lần này tôi đã có gia đình và bắt đầu một cuộc sống mới. Những hàng tre cũng ngã đầu nghiêng bóng giữa trưa hè như vẫy tay chào, một kiểu chào tạm biệt thân thương để tiễn một người con quê hương bắt đầu cuộc hành trình xa xứ. Cánh đồng như vừa thức giấc sau những ngày say ngủ, những hạt nắng tròn trịa khẻ len vào từng khe lá nhỏ cành cây ven đường, thời gian có lẽ vừa dừng lại một vài bước chân, tôi cũng không hiểu vì sao con đường đất nhỏ hôm nay lại đáng yêu quá như vậy, vạt cỏ bạc màu vàng úa, mùi đất nồng hương lá trong ánh nắng của một vùng quê mẹ… Con suối nhỏ với chiếc cầu tre của những ngày hè tuổi học trò, năm tháng đó hình như còn đọng lại dưới chân cầu dẫu dòng nước vẫn đêm ngày tuôn chảy. Chiếc cầu tre lắc lư, dòng suối nhỏ với những lần đi chơi, đi tắm… có lẽ sẽ theo tôi suốt năm tháng cuộc đời, nó không chỉ là những kỷ niệm của một thời học trò vô tư, trong sáng mà là những nét riêng của một vùng quê đã đi vào thời xa vắng, vùng quê này chứa đựng cả hình ảnh ba má tôi, ngoại, dì và các cậu tôi, những biểu tượng của tình thương đã trở thành máu thịt trong con người tôi hôm nay… Rồi cuối cùng con đường nhỏ cũng khép lại, Duyên ngồi bên tôi không nói một lời vì nàng biết những lúc này nên dành cho tôi một khoảng trống để hồi niệm, để tìm về một chút yêu thương từ những gì còn lại trong hiện tại, bởi chúng tôi biết rằng, nếu mình không gìn giữ lại thì những hình ảnh đó sẽ mãi mãi mất đi như không bao giờ tồn tại trong cuộc sống của mình. Chắc cũng lâu lắm mới về quê thăm ngoại được, rồi cũng không hiểu khi tôi về ngoại có còn khỏe như hôm nay không, nghĩ đến vậy mà thấy lo. Tôi chỉ mong sao ngoại ở với tôi càng lâu càng tốt, để thấy những đứa chắt của ngoại lớn lên, để cho nó có một niềm an ủi, dẫu không còn ông bà nội, ngoại thì cũng còn có bà cố luôn thương yêu chúng nó. Tôi biết, lúc đó ngoại sẽ vui lắm khi bên ngoại có thêm vài đứa cháu chắt, và cũng mong rằng niềm vui đó sẽ làm vơi đi nổi nhọc nhằn năm tháng của ngoại trong những ngày tháng cuối đời…

Vào thành phố, công việc cứ xoay quần chúng tôi như chong chóng. Ổn định chỗ ở, chỗ làm, sinh hoạt… Chúng tôi sinh hoạt với một Hội thánh nhỏ, vùng ngoại ô, anh em ở đây cũng toàn là người phương xa đến nên khá chân tình và hòa đồng, bởi hoàn cành ai cũng như nhau. Chúng tôi hầu như không có thời gian để về quê thăm ngoại nữa. Chỉ trông đến tết về thăm ngoại, vậy mà xe cộ đi đâu phải dễ, đành phải hẹn lần nay lần mai vậy. Lâu lâu, tôi lại điện thoại về thăm hỏi sức khỏe ngoại và dì Chín, mấy đứa em. Thời gian này ngoại hay đau bởi tuổi cũng đã quá cao rồi, chắc ngoại cũng buồn vì con cháu không còn ai bên cạnh. Di Chín thì phần lo chăm sóc ngoại, phần lo cho mấy đứa nhỏ ăn học, chắc cũng vất vả lắm. Tôi cũng thấu hiểu được một phần nào nổi buồn của dì, của ngoại khi chiều về đêm xuống, cả ngôi nhà vườn rộng lớn chỉ có mấy con người nhỏ bé… đùm bọc nhau trong tình yêu thương…
Nhận được điện thoại của dì, tôi và Duyên vội xin phép nghỉ việc về ngay. Khi tôi về đến nơi thì ở nhà rất đông người, có Mục sư và các tín hữu trong Hội thánh đến dự lễ tang. Dì Chín nói với tôi, vài tháng trước khi qua đời ngoại có biểu dì dẫn đi nhà thờ. Rồi mấy hôm trước ngoại có mời Mục sư đến nhà, xin ổng cầu nguyện giúp ngoại, cho ngoại “tin theo Chúa” để được gặp ba má thằng Vũ bên kia, dì nói trong nước mắt. Dì cũng đã đi nhà thờ rồi. Tôi cũng khóc, nhưng trong lòng rất vui vì vào những giờ phút cuối đời, ngoại đã bằng lòng tiếp nhận Chúa theo như mong ước của tôi. Những ngày tháng qua, ngoại đau nặng nhưng không cho dì Chín báo tin cho tôi, ngoại sợ ảnh hưởng công việc làm của tôi. Chỉ khi ngoại thấy không thể qua khỏi được thì mới nói dì Chín điện cho tôi, nhưng tôi về không kịp để gặp ngoại lần cuối. Nghe dì nói ngoại ra đi rất thanh thản, rất nhớ con, ngoại thường biểu dì lấy cái hình cũ của con ra xem rồi nói, nó giống y hệt má nó…

Vị Mục sư đến bên tôi an ủi, ngoại em rất tốt. Những ngày cuối đời, cụ đã tin Chúa. Thật ra cụ hiểu biết khá nhiều về giáo lý, hỏi ra mới biết cụ đã có lòng hướng về Chúa đã lâu nhưng chưa có dịp, cho nên có thể nói cụ tin Chúa thật sự. Dì Chín sực nhớ, vội lấy trong tủ ra một cái hộp nhỏ, nói là ngoại để dành cho tôi, không biết cái gì. Tôi, Duyên và dì cùng mở ra thì thấy ở trong toàn là tiền lẻ, những tờ giấy bạc đủ loại mệnh giá, cũ có, mới có, mà ngoại dành dụm bấy lâu cho tôi, nói là để cho thằng Vũ đi làm “cái việc của nhà thờ”. Tôi òa lên khóc nức nở, con cám ơn ngoại nhiều lắm, cả một đời ngoại đã lo cho ba má con rồi bây giờ ngoại vẫn lo cho con cho dù tuổi già sức yếu. Con mong rằng ngoại sẽ được gặp ba má con trên thiên đàng phước hạnh mà Chúa đã dành cho ngoại, cho má, cho ba…

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét