NGƯỜI MAY MẮN
Năm đầu
tiên khi mới ra trường, tôi nhận công tác tại một đơn vị vùng núi tỉnh Quảng
Nam. Tuổi trẻ đang đầy nhiệt huyết, tôi và vài anh em hăng hái lên đường nhận
nhiệm vụ dù chẳng biết nơi mình đến sẽ như thế nào. Đường lên Phước Sơn thật vất
vả, xe chỉ chở chúng tôi đến Hiệp Đức, phần còn lại, suốt mấy chục cây số chỉ
toàn đi bộ, mà đường thì vô cùng lầy lội, có chỗ bùn lên đến đầu gối. Vậy mà vẫn
vui, vừa đi vừa trò chuyện, ngắm phong cảnh, mà phong cảnh thời đó còn rất
hoang sơ với những cây rừng, dòng suối, con đường mòn và tiếng chim kêu… khiến
chúng tôi như hòa mình vào giữa đất trời thênh thang này.
Đi hoài rồi
cũng tới nơi, chúng tôi vào đến đơn vị khi chiều đã xuống, đón chúng tôi là một
bác đội trưởng, tuổi đã khá cao, gần nghỉ hưu. Lán trại đơn vị đóng bên cạnh một
con suối lớn, để tiện bề sinh hoạt, theo như bác đội trưởng giải thích, ban
ngày đi rừng, tối về, cứ trải bạt ra mà ngủ thoải mái, ai muốn nằm đâu thì nằm.
Thật ra, tiện thì có tiện vì nguồn nước ở gần, tắm rửa, giặt giũ, nấu nướng đều
dễ dàng, nhưng mỗi lần mưa lớn, nước suối dâng lên rất nhanh, anh em cũng khá vất
vả để di chuyển lên cao để tránh lũ. Đời sống và công việc cứ thế mà trôi theo
thời gian.
Chừng
khoảng hơn một năm sau, bác đội trưởng có quyết định nghỉ hưu, đơn vị chúng tôi
lại đón một đội trưởng khác, tên là Hải, về thay. Anh Hải là một thanh niên
trai tráng, khoảng gần bốn mươi, nhưng vẫn gọi anh là thanh niên vì anh chưa có
gia đình. Anh là người rất vui tính, hài hước, và có đầu óc thực tiễn. Điều anh
thực hiện đầu tiên là bắt chúng tôi phải dời lán trại lên cao, không ở gần dưới
suối như trước đây nữa. Lúc đầu ai cũng phản đối vì thấy rất bất tiện, nhưng
sau khi nghe anh phân tích, cả đội đều nhất trí. Anh nói, ở gần suối khi lũ về
bất ngờ rất nguy hiểm, đội của anh trước đây đã có người chết vì lũ rồi. thứ
hai, sinh hoạt ngay tại suối, nấu nướng, tắm giặt cũng tại một chỗ rất mất vệ
sinh. Chúng tôi đớ người ra, vậy mà trước đây mình không hề để ý. Sau khi chuyển
lên cao, anh cùng mọi người vào rừng chặt các cây giang đem về làm ống, dẫn nước
từ suối vào chỗ lán trại, đào mương thoát nước, làm bếp, nhà tắm riêng biệt ra.
Anh cũng vận động anh em trồng thêm rau xanh để cải thiện bữa ăn, không những vậy,
anh còn tự tay trồng ít khóm hoa nên khung cảnh khu trại trở nên khá khang
trang dù nằm ở giữa vùng rừng núi. Chúng tôi gọi vui đây là công viên rừng núi.
Gia
đình anh Hải trước đây tin Chúa đã lâu, tuy nhiên do thời cuộc, đi học, đi làm
xa quê, không có điều kiện đi nhóm lại nên đức tin của anh cũng dần nguội lạnh.
Có thể nói hầu như anh quên hẳn chuyện đi nhà thờ rồi, vậy mà Chúa đã cứu anh.
Trong một chuyến công tác tại một vùng sâu, vào một buổi chiều, khi anh một
mình lang thang bên dòng suối nhỏ để bắt vài con cá đem về nấu canh, anh chợt
nghe có tiếng hát, “Này con yêu dấu, bóng con giờ đâu, con lạc phương nào, bao
ngày sương gió, lòng ta đau đớn, xót xa vì con, ta nhớ thương con, tìm con khắp
chốn. rừng sâu heo hút, bước ta chợt
nghiêng, mắt lệ cố nhìn ven rừng ven suối, mà sao xa vắng, bóng con biệt tăm,
tim này tan nát, nhớ con muôn phần…”.
Khi nghe đến
câu: rừng sâu heo hút, bước ta chợt nghiêng, mắt lệ ngước nhìn, ven rừng ven suối…
lòng anh thấy xót xa, tự nhiên dâng trào nước mắt. Anh nhớ về Hội Thánh ngày
xưa, nhớ về những giờ nhóm thờ phượng Chúa, nhớ những bài Thánh Ca quen thuộc,
nhớ anh em trong Ban Hát lễ, nhớ vị quản nhiệm… Anh lần tìm lên đầu con dốc, một
ngôi nhà thờ nhỏ hiện ra dưới bóng cây cuối đường. Ngôi nhà thờ vắng tanh, giống
như lâu ngày không có người lui tới, tự nhiên anh liên tưởng đến cuộc đời anh
trong những năm tháng qua, không hề có bóng dáng Chúa hiện diện… Anh mạnh dạn
bước vào tư thất, một cụ già đang ngồi nghe nhạc, bài hát mà anh đã nghe chính
là bài mà cụ đang mở. Qua trò chuyện, anh mới biết đây là ngôi nhà thờ nhỏ đã từ
lâu không có người quản nhiệm, thời cuộc mà. Trước đây, vùng này có rất nhiều
tín hữu, sau này, họ về quê hoặc đi làm ăn xa, Hội Thánh cứ thưa người dần và
cuối cùng vị mục sư cũng được chuyển đi nơi khác. Hiện chỉ có vài gia đình ở
đây, cụ là người ở gần bên nên thường hay qua đây chơi, tiện thể dọn dẹp luôn
cơ sở nhà Chúa cho sạch sẽ, tuổi già thì chỉ biết làm có vậy, theo lời cụ nói.
Khi anh trải lòng ra với cụ, nói rằng mình cũng là con dân Chúa nhưng đã lâu
ngày không đi nhà thờ, cụ mừng lắm. Cụ khuyên anh nên trở lại thờ phượng Chúa,
lấy minh chứng bằng chính cuộc đời của cụ, không gì phước hạnh bằng cuộc đời của
một người theo Chúa, dẫu có phong ba bão táp vẫn nhẹ nhàng, thanh thản. Cụ nói
anh là người may mắn vì đã có cơ hội trở lại cùng với Chúa, cái từ “may mắn” kể
từ đó đã theo anh suốt cả cuộc đời về sau. Cụ cầu nguyện cho anh ăn năn trở lại
với Chúa, anh đã khóc nức nở như đứa trẻ, đó là anh kể lại chứ tôi thì không thể
biết được anh khóc nhiều đến như thế nào, vậy là cuộc đời của anh đã sang một
trang mới… Sau này, anh có trở lại ngôi nhà thờ cũ nhưng nó đã hoang tàn, sụp đổ;
cụ già giúp anh trở lại với Chúa năm nào cũng đã không còn nữa, anh nhận ra những
gì trên cuộc đời nay thật ngắn ngủi, chính vì thế những ngày sau đó anh cố sống
cho có kết quả nhất…
Hồi ban đầu,
tôi để ý, thấy người đội trưởng mới của chúng tôi làm việc không giống như bác
đội trưởng cũ. Chúa nhật nào anh cũng cho chúng tôi nghỉ ngơi chứ không tranh
thủ làm như người tiền nhiệm. Sáng Chúa nhật anh thường bỏ đi đâu lâu lắm, đến
trưa mới về, thậm chí có khi chiều tối mới có mặt ở đơn vị, anh em không ai biết
được. Anh bảo mọi người, làm việc sáu ngày là đủ rồi nếu anh em làm việc hết
mình, thậm chí ngày thứ hai anh vẫn cho chúng tôi ở nhà để tổng hợp số liệu thu
hoạch được, thế nên thực tế chúng tôi chỉ đi rừng mỗi tuần có năm ngày mà thôi.
Anh em ai cũng thích thời gian biểu và cách làm việc mới này, công việc vẫn
trôi chảy, anh em lại có thời gian nghỉ ngơi, sửa sang lại lán trại, viết thư
cho gia đình…
Một hôm anh
Hải kêu riêng tôi ra. Anh hỏi nhà tôi ở đâu, có gần nhà thờ không, có biết mục
sư này, mục sư kia không. Khi nghe tôi trả lời, anh im lặng một lúc rồi hỏi:
-
Mấy năm rồi chú
không đi nhà thờ?
Tôi giật
mình, vì không hiểu sao anh lại biết tôi là tín đồ, mà là tín đồ yếu đuối nữa.
Nghe tôi kể chuyện hoàn cảnh, anh nói:
-
Trước đây, tôi
cũng giống như chú, đã tin Chúa rồi bỏ. Tuy rằng chú không đi nhóm lại nhưng nếp
sống của con dân Chúa vẫn còn lại một ít, chú không hút thuốc, không rượu chè…,
lại rất chân thật, ngay thẳng, tôi nhìn vậy nên cũng có thể đoán được một phần
nào.
Rồi anh kể
lại chuyện anh trở lại với Chúa như thế nào, câu chuyện hay như cổ tích chứ
không như tôi, chỉ tình cờ gặp anh. Thế rồi sáng Chúa nhật sau, anh rủ tôi cùng
anh đi chơi, nói là đi chơi cho vui chứ thật ra là hai anh em chúng tôi vào sâu
trong rừng, lên đến đầu nguồn con suối, nơi đó có một tảng đá to như một nền
nhà, bằng phẳng, có thể chứa đến cả chục người. Hai anh em chúng tôi cùng giở
Kinh Thánh ra đọc, hát Thánh Ca, và cùng nhau suy gẫm lời Chúa. Thú thật, lần đầu
tiên hát Thánh Ca giữa núi rừng tôi vô cùng ngượng nghịu, dẫu rằng thấy cũng
hay hay, đến khi anh bảo tôi chia sẻ đoạn Kinh Thánh vừa đọc tôi mới giật mình.
Đã lâu lắm rồi, tôi không hề đọc lời Chúa nói chi đến việc suy gẫm, anh cười, động
viên tôi, kể cho tôi nghe là anh phải tự học lời Chúa một mình suốt mấy năm nay
kể từ khi anh trở lại với Chúa. Đó là lý do sáng Chúa nhật nào anh cũng vắng mặt
ở đơn vị để vào rừng thờ phượng Chúa một mình, hôm nay có thêm tôi anh rất vui,
anh nói anh là người may mắn vì đã có thêm bạn nhóm lại. Và từ đó, mỗi sáng
Chúa nhật, hai anh em chúng tôi đều rủ nhau vào rừng đọc Kinh Thánh, hát Thánh
Ca, những hôm nào trời mưa lũ, không ra ngoài được, anh và tôi cũng tìm một góc
nào đó để nói chuyện Hội Thánh, về những người bạn ở quê…
Chuyện
không dừng lại ở đó. Một sự việc xảy ra đã làm thay đổi cuộc đời anh. Một ngày nọ,
một đơn vị nữ đi ngang qua trại chúng tôi. Họ dự định đóng trại bên kia suối để
tiện đường vào rừng. Khi qua thăm lán trại, họ không ngờ nơi ở của chúng tôi lại
tươm tất, sạch sẽ như vậy, nhất là việc lấy nước từ trên suối về, rất tiện lợi.
Đơn vị nữ đề nghị nhờ chúng tôi giúp đỡ, dĩ nhiên tất cả đơn vị đều đồng ý trăm
phần trăm. Thế là tất cả mọi người bỏ ra mấy ngày, vượt suối, qua bên kia làm một
lán trại khá lớn, với đầy đủ tiện nghi: nhà nghỉ, nhà bếp, nhà vệ sinh, nhà tắm…
Các chị em bên kia rất thích vì trước đây họ chưa từng có như vậy, bên này
chúng tôi cũng vui vì đã có thêm bạn và thỉnh thoảng lại được ăn những món ngon
do chính các bạn nữ nấu đem qua cho. Bên trại nữ có chị Hòa là người rất dễ
thương, nhưng nghe đâu đường tình duyên khá trắc trở. Chị đã đính hôn rồi nhưng
khi anh kia khi đi được nước ngoài thì biệt tăm chẳng hề có chút tin tức. Mấy
năm sau chị lại quen với một kỹ sư cầu đường khá điển trai, ai ngờ, sau vài
tháng mới biết là anh chàng đã có vợ ngoài quê… Từ đó hễ ai nói đến chuyện lấy
chồng chị rất ghét.
Hôm đầu
tiên sinh hoạt giao lưu hai đơn vị, chị Hòa tự nhiên có cảm tình với anh Hải.
Không hiểu anh Hải có biết không nhưng vẫn cứ làm lơ và nói chuyện như không có
gì hết. Rồi sau đó, nhờ có dịp gặp nhau mấy lần nữa, anh Hải mới biết chị Hòa
cũng là tín đồ Tin Lành, gia đình rất khá giả ở thành phố, sau những chuyện
tình duyên thất bại, chị buồn quá nên xin đi làm xa để cho khuây khỏa, mặc dù
gia đình chị dư sức tìm việc cho chị. Vậy là tổ nhóm hai người của chúng tôi đã
trở thành ba. Anh Hải và chị Hòa lúc đầu thì chỉ là tình cảm bình thường, dần dần
trở nên đậm đà hơn, tuy vậy những giờ thờ phượng Chúa, anh rất nghiêm túc, việc
nào ra việc đó. Một hôm chị nói nhỏ với tôi, chị muốn giới thiệu cho tôi người
bạn, chứ để tôi một mình hoài cũng khó, trong khi anh chị đã là một cặp rồi.
Tôi cười, tùy ý chị. Nói là làm, chẳng hiểu chị thuyết phục thế nào mà tuần sau
lại rủ được Âu, một cô gái xinh đẹp bên đơn vị nữ đi nhóm chung với chúng tôi.
Nhà Âu ở Duy Nghĩa, quê hương của làng chiếu nổi tiếng một thời, tuy bây giờ
không còn cực thịnh như xưa nhưng vẫn có khá nhiều gia đình tiếp tục nghề truyền
thống do ông cha để lại bao đời qua. Thật ra Âu chưa biết gì về Chúa cả, nhưng
nể chị Hòa nên cũng mạnh dạn đi với chị. Dần dần qua sự làm chứng của anh Hải,
Âu đã hiểu được con đường mình phải chọn và bằng lòng tin nhận Chúa, cả ba
chúng tôi rất vui mừng cùng chung cầu nguyện cho Âu Hôm đó, Âu và chị Hòa nấu nồi
chè đậu đen thật lớn đãi cả hai đơn vị nói là nhân sinh nhật Âu, nhưng thật ra
là mừng ngày Âu được trở thành con dân Chúa, ờ mà sinh nhật Âu cũng được, vì
chính đây là ngày mà Âu được sống lại trong con người mới, con người biết thờ
phượng Chúa.
Anh Hải rất
ý tứ, phân công chia nhóm cầu nguyện cùng nhau, hai người một cặp, thay đổi theo
tuần. Chính vì vậy mà tôi có dịp cùng anh Hải, chị Hòa, Âu cùng cầu nguyện cho
nhau về những nan đề của mỗi người. Qua những buổi nhóm, buổi cầu nguyện như vậy,
mấy anh em chúng tôi càng hiểu nhau và thương yêu nhau hơn. Âu cũng vậy, cũng dạn
dĩ và dễ thương hơn rất nhiều. Chị Hòa và anh Hải tuy không gán ghép nhưng cứ gợi
ý bảo tôi đến với Âu. Thật lòng tôi rất mến Âu nhưng hình như có cái gì đó khiến
tôi không yêu Âu được và cứ xem Âu như một người bạn, một người bạn rất thân.
Ban đầu chị Hòa cứ trách tôi mãi, nhưng rồi cũng nói, chắc là do số phận, còn
anh Hải cứ cười cười, thằng Vũ khó bị cưa lắm chứ đâu phải nhẹ dạ như anh, câu
này khiến chị Hòa cứ nguýt anh Hải mãi… Sau này, khi đơn vị giải thể, anh Hải
chị Hòa nghỉ hưu sớm về nhà buôn bán làm ăn, tôi thì được phân công về thành phố,
còn Âu cũng xin nghỉ việc, về quê nối tiếp nghề làm chiếu của gia đình. Chúng
tôi rất vui vì Âu vẫn giữ được niềm tin, và lập gia đình với một người trong
Chúa, tuy không mạnh mẽ lắm, nhưng như vậy cũng là niềm vui cho chúng tôi rồi.
Về phần tôi, chắc số phận không cho tôi đi xa nên khi về thăm quê cũ, tôi lại gặp
người bạn gái thời thơ ấu và lập gia đình với Duyên, người con gái tuyệt vời nhất
mà Chúa ban cho tôi,
Vợ chòng
anh Hải về quê chị Hòa sinh sống, mở một quán nước nhỏ, bán thêm đồ ăn sáng và
tối, thu nhập cũng không đến nỗi gì. Anh chị có hai đứa con gái, lại lấy tên
tôi và Âu đặt cho chúng. Chỉ điều này đã làm tôi cảm động lắm vì chính nhờ những
tháng ngày vất vả tại núi rừng mà tôi đã quen với anh, với chị Hòa, với Âu và
nhất là được trở lại làm con của Chúa. Khi Duyên biết anh đặt tên con như vậy
có vẻ không hài lòng, anh cười bảo, anh xin lỗi vì chỉ có hai đứa, nếu có đứa
thứ ba thì anh sẽ đặt tên là Duyên, được không, còn không thì chờ khi nào có
cháu ngoại anh sẽ đặt nó tên là Duyên. Duyên cười, dẫy nẫy, em mà làm con của
hai người kia sao… Tuy Âu không thường xuyên về thăm anh nhưng cũng hay liên lạc
bằng điện thoại. Mỗi lần có dịp đi ra Duy Xuyên, anh đều xuống Duy Nghĩa thăm vợ
chồng Âu, anh thường nói, vì anh mồ côi sớm, không cha mẹ, không anh em nên
chúng tôi là những người thân thiết nhất của anh. Tình cảm chân thành ấy cứ ở
mãi trong trái tim mỗi người chúng tôi, có lẽ không bao giờ phai.
Cuộc đời
con người nếu cứ suông sẻ mãi thì thật là bất bình thường. Tôi nói vậy bởi
không ai không ít nhất một lần trắc trở trong cuộc sống. Anh Hải và chị Hòa tưởng
rất yên ổn trong những tháng ngày hưu hạ thì một chuyện đã xảy ra. Ngày nọ cả
gia đình cô Hiền ở xóm dưới cùng nhau kéo đến nhà anh Hải. Hóa ra câu chuyện thế
này, Hiền vốn là cô gái hơi đứng tuổi, đã ba bảy rồi, nhưng vẫn chưa có gia
đình. Một hôm cả nhà phát hiện ra Hiền đã có bầu ba thán, gặn hỏi mãi mà Hiền
không nói ra là ai. Cuối cùng Hiền nói người cha của đứa bé chính là anh Hải,
chồng chị Hòa. Anh Hải vốn là người có uy tín tại địa phương, không ngờ hôm nay
lại có chuyện như vậy. Chị Hòa và anh Hải nghe chuyện cũng bất ngờ, chị giận lắm,
tuy nhiên, trước mặt mọi người chị cũng im lặng để anh Hải nói chuyện. Hóa ra
trước đây anh Hải có một lần cho Hiền đi nhờ về, hôm đó trời mưa rất lớn, anh Hải
đi công việc về thấy Hiền một mình giữa đường nên chở Hiền về, chỉ một lần vậy thôi. Nhưng hôm nay, Hiền
nhất quyết nói Hiền và anh Hải đã có quan hệ với nhau, anh Hải ngồi im lặng một
lúc, nhìn thẳng vào mắt Hiền, cô em gái láng giềng mà anh hằng thương yêu, đôi
mắt đẫm lệ ánh lên sự cầu xin. Anh hiểu được một phần sự việc, rồi nói với gia
đình Hiền bằng giọng nhỏ nhẹ. Anh thưa thật với gia đình là anh và Hiền hoàn
toàn không có gì, nhưng anh sẵn sàng nhận cháu bé làm con vì anh rất thương Hiền,
xem Hiền như em gái, anh không muốn con Hiền ra đời mà không có cha, anh hứa sẽ
chăm sóc cả hai mẹ con, nếu cần... Lúc đầu,
gia đình Hiền không chịu, cương quyết nói tới, nhưng sau một hồi nghe anh phân
tích, nên họ cũng đồng ý và hiểu rằng cha đứa bé chắc không phải là anh. Họ xin
anh giữ kín để bảo vệ danh dự cho Hiền (?), điều này cũng buồn cười vì họ lại
không nghĩ rằng điều đó lại ảnh hưởng đến gia đình anh thế nào, tuy vậy anh
cũng tỏ ra rất nhẹ nhàng. Ban đầu chị Hòa cũng giận lắm, nhưng nghĩ đi nghĩ lại
chị cũng tin vào anh Hải, tuy vậy chị cũng buồn, không nói chuyện với chồng đến
mấy ngày, không khí trong nhà nặng nề lắm. Dần hồi, chị như đã suy nghĩ kỹ lại,
trở nên nhẹ nhàng hơn, không những vậy chị lại thay anh Hải đến thăm và chăm
sóc Hiền. Hôm Hiền sinh, cả hai anh chị cùng đến. lo cho Hiền và con rất chu
đáo. Anh cũng ra tận Ủy ban Phường để làm giấy khai sinh cho bé Ân, tuy có người
nói ra nói vào những cuối cùng mọi chuyện cũng êm xuôi. Lúc này, một số người
bên nhà thờ bắt đầu có phản ứng dữ dội. Họ nói không có lửa làm sao có khói và
đề nghị mục sư Quản nhiệm kỷ luật anh Hải, vì quá áp lực nên ông đành phải cùng
Ban Chấp sự ra biên bản kỷ luật anh trong khi chưa hiểu hết vấn đề. Điều này
làm anh thật sự đau đớn hơn những lời chế nhạo, chê bai của hàng xóm bấy lâu
nay. Những người không thích anh bắt đầu nói không hay về anh, điều này giống
như đổ dầu vào lửa. Chị Hòa nhiều khi cũng giận cho anh, gây sự với anh, nhưng
cuối cùng rồi cũng thôi. Anh buồn lắm, cả tháng liền không đến nhà thờ, ai đến
thăm anh cũng không tiếp. Tôi và Duyên cũng xin nghỉ phép ít ngày về thăm anh
chị. Anh Hải tiếp tôi rất vui vẻ, trái ngược với cái vẻ lãnh đạm thường ngày.
Anh nói rằng anh là người may mắn. Tôi hỏi sao lại may mắn, anh nói, chú nghĩ
thử, mình không có con trai, tự nhiên bây giờ lại có đứa con trai, không phải
là may mắn sao. Chúng tôi cười, chị Hòa thì cứ cằn nhằn, may mắn đâu không thấy,
chứ bây giờ người ta nói đủ thứ. Nói thì nói vậy chứ chị Hòa lại là người rất rộng
lượng, chị thường xuyên chăm sóc Hiền như một người chị, người mẹ. Chính vì vậy
mà Hiền rất biết ơn vợ chồng anh chị. Nhưng điều kỳ diệu hơn hết là, không hiểu
anh chị thuyết phục Hiền như thế nào mà chỉ mấy tháng sau Hiền chịu đi nhà thờ
và cầu nguyện tin Chúa. Chuyện này lại làm tốn thời gian của nhiều người, họ
bàn tán về chuyện gia đình anh, nhưng anh chị vẫn im lặng, giữ sự nhóm lại như
trước đây. Từ ngày tin Chúa, Hiền tỏ ra rất sốt sắng, cũng thường xuyên qua lại
nhà anh chị Hải chơi, xem như người trong nhà. Khi bé Ân biết nói, anh tập cho
nó kêu anh bằng ba, lúc đầu chị Hòa có phàn nàn nhưng sau rồi thôi, ai mà trách
trẻ con được, nhất là khi nó là đứa trẻ kháu khỉnh và dễ thương, vả lại, hai
con chị cũng đã đi học xa nên ở nhà có mẹ con Ân qua chơi, có tiếng con nít ríu
rít, căn nhà vui hơn nhiều. Cũng chính nhờ gần gũi gia đình anh chị, nên Hiền
cũng trở nên thùy mị hơn lúc trước, chịu khó, chăm chỉ làm ăn, lo cho con. Rồi
cũng không biết anh thuyết phục thế nào, cái chiêu này của anh độc đáo lắm, mà
cả gia đình Hiền cũng có cảm tình với Hội Thánh, năm sau lại chịu tin Chúa. Lúc
này chị Hòa mới cảm tạ Chúa hết lòng vì thấy qua những sự cố như vậy, gia đình
anh đã may mắn làm chứng được mấy linh hồn trở lại với Chúa. Tôi và Duyên nghe
chuyện rất mừng, biết rằng Chúa vẫn ban phước dồi dào trên gia đình anh.
Từ khi bị kỷ
luật, anh Hải buồn lắm. Những công việc của anh bên nhà thờ đều không thể tiếp
tục. Mục sư khuyên răn anh sốt sắng cầu nguyện, Chúa luôn có sẵn những chương
trình tốt đẹp cho những ai trông cậy vào Ngài. Chúng tôi cũng lo cho anh bởi
bình thường anh không phải là người ngồi yên một chỗ. Thế rồi một hôm, khi đang
đi dạo trên đường, anh bỗng nảy ra một ý nghĩ, anh về chăm chỉ học hỏi lời Chúa
nhiều hơn và mạnh dạn đi ra làm chứng. Thật ra, ngoại hình anh đã là một ưu điểm
quan trọng, cao ráo, đẹp trai, lại ăn nói lưu loát. Anh hay đến những vùng sâu,
vùng xa, làm quen các gia đình và nói về Chúa cho họ. Công việc tiến triển một
cách tự nhiên như anh là một chứng đạo viên lâu năm, hễ làm chứng được người
nào anh giới thiệu họ đến Hội Thánh gần nhất để nhóm, còn không thì anh lấy địa
chỉ, đến giới thiệu cho các nhân sự Hội Thánh để họ biết mà đến thăm. Ra đi làm
chứng trở thành công việc thường ngày của anh, chị Hòa biết rằng anh đã tìm được
niềm vui thật sự nên cũng thu xếp công việc gia đình để anh không vướng víu mà
có thể thoải mái ra đi làm chứng.
Một ngày nọ,
người cha ruột của bé Ân tìm về lại với Hiền. Hiền lúc này rất giận và không chịu
tiếp. Hóa ra đó là một anh chàng công nhân làm trong một xí nghiệp gần nhà Hiền.
Hai người quen nhau cũng khá lâu mà gia đình thì không hề biết. Thật ra anh ta
đã có gia đình, đến với Hiền chỉ là giả dối. Khi biết tin Hiền có thai, anh hoảng
sợ, trở về lại quê nhà làm ăn sinh sống, không ngờ được mấy năm, vợ anh đã bỏ
anh đi theo người khác, để lại một đứa con gái. Anh ta gọi đây là quả báo. Anh
ân hận lắm nên muốn trở lại tìm Hiền. Sau khi bị gia đình Hiền chửi cho một trận,
anh lại tìm đến anh Hải, người cha trên giấy tờ của con anh. Chị Hòa giận lắm,
cũng làm cho một trận, chỉ anh Hải là im lặng, cái vẻ im lặng giống như trước
đó bảy năm khi gia đình Hiền dẫn Hiền đến bắt đền anh. Sau này tôi mới biết,
lúc đó anh đang cầu nguyện xin Chúa hướng dẫn, chỉ cho anh cách xử lý những
tình huống rối ren này. Anh không trách gì Tú, người cha ruột của Ân, chỉ
khuyên nên sống chân thật, chung thủy. Anh nói Tú là người may mắn vì Hiền rất
đàng hoàng, ở vậy nuôi con mấy năm nay, không hề tơ tưởng điều gì khác, mà bé
Ân cũng ngoan ngoãn, học giỏi. Tú rất phục anh Hải vì anh không la mắng anh, Tú
xin anh Hải khuyên Hiền tha thứ cho Tú để Tú có cơ hội chăm sóc bé Ân. Anh Hải
cười, khuyên Tú cứ về sống cho đàng hoàng, phải có trách nhiệm với con mình,
thường xuyên quan tâm đến thì sẽ có ngày Hiền và Ân sẽ trở lại với mình. Rồi
anh nói đến câu chuyện người đàn bà tà dâm trong Kinh Thánh, Chúa Giê-xu không
lên án bà mà chỉ khuyên, đừng phạm tội nữa… Rồi không hiểu sao anh Hải lại có
duyên như vậy, Tú đã bằng lòng tiếp nhận Chúa khi được anh Hải mời đi nhà thờ
trong những ngày ở lại nơi đây. Tôi nói với Duyên, hễ ai dính vào anh Hải, chắc
chắn không thể thoát được, Duyên cười.
Những năm
sau này, chúng tôi lu bu công việc nên ít về thăm anh Hải, chị Hòa, cũng ít gặp
Âu. Một hôm chị Hòa điện cho chúng tôi, anh Hải yếu, hai em về thăm gấp. Tôi và
Duyên vội sắp xếp công việc về thăm anh chị. Anh Hải bị đau cả mấy tháng rồi
nhưng không cho chúng tôi hay vì anh biết chúng tôi bận rộn, lại ở xa nên không
muốn làm phiền, chỉ khi thấy mình yếu sức anh mới nói chị báo cho chúng tôi. Những
cơn sốt rét không hại được sức khỏe anh thời trai trẻ thì bây giờ nó mới nổi
lên, người anh xanh xao, và ốm lắm. Thấy hai đứa tôi đến, anh rất vui, mấy anh
em cùng ôn lại những chuyện ngày xưa, hồi còn ở rừng ở núi, rồi chuyện của Âu,
của Hiền, của Duyên… hình như không thể hết được. Anh vẫn nói anh là người may
mắn, vì đã có những người bạn như chúng tôi, những người không máu mủ mà còn
hơn là ruột thịt. Anh bảo hai đứa tôi cố gắng sống cho có kết quả, cho dù có
chuyện gì xảy ra đi nữa cũng phải cầu nguyện, nhờ sức Chúa mà vượt qua, giống
như anh chị đã vượt qua. Duyên dạ, mà rưng rưng nước mắt, chị Hòa cũng vậy. Tôi
cảm nhận được dường như đây là những lời nhắn nhủ cuối cùng của anh, tôi cầm
tay anh mà không biết nói gì, chỉ biết cám ơn anh, về rất nhiều điều…
Hai tuần
sau, chúng tôi nhận được tin anh Hải về nước Chúa. Công việc bận rộn, chúng tôi
không về dự đám tang anh được, tôi ứa nước mắt mà thương nhớ anh, Duyên cũng vậy.
Tôi nhớ lại lời anh nói, anh là người may mắn, vâng, tôi cũng vậy, tôi cũng là
người may mắn vì đã có anh, có Duyên và nhất là có Chúa làm chủ đời mình. Anh Hải
ơi, chúng em sẽ cố gắng sống như anh, một người may mắn của Chúa.
Cảm động quá Thầy ơi. Nhất là biến cố xảy đến với cô chú Hải Hòa mà cuối cùng cũng đã sáng tỏ. Tất cả chỉ cần lòng tin vững mạnh thì việc gì cũng vượt qua.
Trả lờiXóangười con Chúa không phải là người không gặp thử thách, khó khăn trong cuộc sốn. Nhưng khi đối diện với nó, họ có niềm tin vào Chúa và nhờ cậy sức Chúa để vượt qua. Cuối đường hầm, tưởng là không lối thoát, bao giờ Đức Chúa Trời cũng dành cho những ai biết trông cậy Ngài những phần thưởng xứng đáng...
Trả lờiXóa