MỘT CUỘC ĐỜI
Vừa
xuống xe, tôi dừng lại bên chiếc cầu bê tông mới xây, con đường về làng đây rồi.
Đúng là đứng ở góc này nhìn về phía nhà thờ rất đẹp, sau những hàng cây rậm rạp,
gác chuông nhỏ với thập tự giá vươn lên từ trong những vòm lá xanh biếc như một
biểu tượng bền bỉ của thời gian. Cũng lâu rồi, tôi mới có dịp về lại quê cũ,
cái làng quê nhỏ bé với biết bao kỷ niệm một thời cắp sách đến trường, cái thời
thật vô tư, hồn nhiên mà một khi nó đi rồi qua rồi ta mới thấy nó thật tuyệt vời,
đáng nhớ. Ngôi nhà thờ xây trong thời kỳ chiến tranh, theo cái mẫu phổ thông của
những nhà thờ Tin lành hồi đó, cho đến bây giờ có lẽ là nhà thờ cổ nhất ở khu vực
này. Hiện nay, theo thời gian, đa số nhà thờ đã xuống cấp, không còn đủ chỗ cho
tín hữu nhóm lại nên người ta đã xây dựng lại theo kiểu mới, đẹp, hiện đại và rộng
lớn. Đã đi khá nhiều nơi, đến thăm nhiều nhà thờ to lớn hơn, đẹp đẽ hơn, nhưng
sao tôi vẫn thích ngôi nhà thờ cũ kỹ, nhỏ bé ở cái làng quê một thời gắn bó với
mình như vậy. có lẽ vì nó như một chiếc nôi tâm linh của tôi mà…
- Ủa, mi về hồi mô rứa?
- Dạ, con mới về. Nghe nói bà nội đau, thành thử tranh thủ
về thăm một chút.
- Ô! Bả khỏe rồi, người già mà, đau ốm là chuyện bình thường.
Mới hồi sáng đây, tau ghé qua thăm, bả hết bịnh rồi, mấy đứa nhỏ chở bả đi ăn
đám cưới ở xóm dưới rồi.
- Vậy hả chú, rứa mà con tưởng nội đau nặng lắm.
- Ờ. Thôi ra ngoài vườn ni ngồi chơi cho mát, để tau đem
cái võng ra.
Chú Tám thật biết tính tôi, ưa nằm
võng. Hai cái võng treo dưới vòng cây phía trước tư thất, đã thiệt.
- Mà răn hôm ni chú qua đây? Con định ghé thăm Thầy Truyền
đạo một chút.
- Ờ. Thầy cô ngày ni đi vắng, đi hiệp nguyện rồi, nhờ tau
qua coi nhà dùm, ngồi bên nhà ngó qua cũng được, nhưng tau lại ưng qua đây, nằm
dưới bóng cây cho mát.
Nghe chú Tám nói vậy, tôi biết là chú lại
nhớ đến cô Hoa, mẹ Duyên, người đã để lại cho chú một đứa con gái trước khi ra
đi… Tội nghiệp chú lắm, hai người rất thương yêu nhau, nhưng cuộc sống là vậy,
luôn có những điều không thể biết trước được.
Hồi xưa,
chú Tám thuộc gia đình đạo dòng, hai ba đời tin Chúa. Nghe nói hồi nhỏ chú cũng
nghịch lắm, đã nhiều lần đi uống lén nước tiệc thánh của mục sư để trong tư thất
để coi thử hắn ngọt hay là chua, rồi những lần trèo lên cây nhãn phía sau nhà
thờ, lựa những chùm nhãn chín cắn vỏ ăn hết, đến khi mục sư ra hái thì hởi ôi…
Nghịch là vậy, nhưng đã bao năm nay chú luôn xem nhà thờ nhỏ bé, cũ kỹ này như
là căn nhà yêu quí của mình bởi nó chứa biết bao kỷ niệm của cả gia đình chú,
cái gia đình đầm ấm bỗng chốc tan biến bởi sự khắc nghiệt của chiến tranh, chỉ
qua một đêm khói lửa, chú chỉ còn lại một mình. Hồi xưa, cứ mỗi sáng Chúa nhật,
chú lại theo chân ông bà, cha mẹ đến nhà thờ. Nhà thờ rất đông người nhóm lắm,
đa số tín hữu là dân tản cư, về đây sống tạm, ở xung quanh nhà thờ nên tự nhiên
chỗ này cũng trở thành một khu dân cư đông đúc, chứ không như bây giờ.
Sau ngày giải
phóng đời sống rất khó khăn, đa số tín hữu lần lượt về quê sinh sống nên nhà thờ
không còn mấy người lui tới. Từ số lượng hàng trăm người bỗng chốc còn vài chục,
rồi vài người… cuối cùng vị mục sư cũng được chuyển đi nơi khác để lại một ngôi
nhà thờ, sân vườn rộng mênh mông không có người coi sóc. Nói vậy chứ trước khi
đi, mục sư cũng đã dặn dò chú, người thường xuyên qua lại, nhờ trông chừng cơ sở
nhà Chúa, biết đâu mai mốt sẽ có người về lại… Chính vì vậy, chú lại nhận trách
nhiệm coi ngó nhà cửa, lúc đầu đi đi về, sau đó qua ở luôn trong bếp tư thất, sở
dĩ ở trong bếp vì chú cho rằng chỉ có Tôi tớ Chúa mới xứng đáng ở trong tư thất
nhà Chúa, còn mình là tín đồ, ở vậy cũng được, lại tiện bề bếp núc.
Chuyện chú đến
với cô Hoa cũng là một câu chuyện khá ly kỳ. Một đêm nọ, trời mưa to lắm, chú
Tám không ngủ được. Không hiểu chú có linh tính gì không mà cứ dậy đi qua đi lại,
đi ra đi vô. Chợt một tia chớp vụt ngang qua phía trước nhà thờ, chú thấy có một
bóng người thấp thoáng trong mưa, chú vơ vội cái tấm nylon, đội mưa ra coi thử.
Một người phụ nữ, ướt đẫm, mặt mày nhợt nhạt ngồi trước cổng nhà thờ, hơi thở
còn rất yếu. Chú vội dìu cô vào nhà, lấy đại bộ đồ của mình thay cho cổ, rồi nấu
một bát cháo hành nóng cho cổ ăn đỡ, lấy chai dầu Trường Sơn xoa bóp khắp người
cho ấm lại. Hình như lúc này cô gái không còn biết gì cả, chỉ sau khi khỏe lại,
thấy có một người đàn ông xa lạ thay đồ cho mình, chăm sóc cho mình, cổ ngượng chín cả mặt. Hỏi ra mới rõ,
nhà cổ ở trên huyện, vì bị người ta lợi dụng làm nhục nên cổ đau khổ, tuyệt vọng
bỏ nhà ra đi, ai dè đến đây, bị mắc mưa trước cổng nhà thờ. Rồi cô lại kể cho
chú nghe thêm nhiều chuyện gia đình, hoàn cảnh của mình, khi đó, tự nhiên chú
Tám lại thương cho hoàn cảnh của người con gái này, chú lẳng lặng chăm sóc cô một
cách chu đáo.
Những ngày
sau, khi cô Hoa khỏe, chú Tám lại dẫn cô qua nhà, để cô nghỉ ngơi, còn mình thì
ở hẳn bên nhà thờ, đi làm về thì ghé thăm cô một chút. Không hiểu chú thuyết phục
thế nào mà mời cô đi nhà thờ được, dần dần, cô đã quen với nề nếp sinh hoạt của
Hội thánh từ lúc nào không hay và đã cầu nguyện tin Chúa. Tuy nhiên điều đó
không làm mọi người ngạc nhiên hơn chuyện chú chở cô Hoa về nhà cô, xin hỏi cưới,
trong khi cô mang bụng bầu đã ba, bốn tháng. Lúc đầu ai cũng nghĩ chú không
bình thường, bởi một chàng trai tân mà đến với một phụ nữ lỡ làng thì phải có mục
đích. Hóa ra nhà cô Hoa cũng không khá giả gì, cả nhà đều rưng rưng nước mắt
khi chú nói thật lòng thương yêu cô Hoa và chấp nhận những gì hiện tại. Mà cũng
thật, bởi cô Hoa rất dễ thương, hiền hậu, những gì tuyệt đẹp nhất của cô bây giờ
vẫn còn trên người con gái duy nhất: Duyên.
Vậy là chú
đã có gia đình. Sáu tháng sau ngày đám cưới, vợ chú sinh một bé gái kháu khỉnh,
dẫu biết không phải là con mình nhưng chú Tám vẫn thương yêu như con ruột và đặt
cho nó cái tên Duyên, Hữu Duyên, bởi chuyện giữa chú và cô Hoa như là duyên nợ,
tình cờ mà lại thương yêu nhau. Thật lòng mà nói, chú Tám cũng rất “hên” khi gặp
được cô Hoa, bởi cô vừa được người, lại vừa được nết, đẹp gái, hiền hậu, ai
cũng yêu mến. Hồi còn ở quê, tôi thường hay qua nhà chú Tám chơi, cô xem tôi
như con cái trong nhà, rất ân cần, yêu thương…..
Vậy mà cuộc
đời vẫn có nhiều đắng cay. Năm Duyên lên 7, cô Hoa bị bệnh nặng, qua đời. Chú
Tám buồn đau, gần như mất cả lý trí. Cả ngày, chú cứ ngồi trong nhà ngó ra
ngoài cổng, nơi lần đầu tiên chú gặp cô, cái cổng vô tri vô giác tự nhiên trở
thành một cái biểu tượng của một tình yêu sâu thẳm, mọi người biết chú buồn, đến
khuyên răn, nhưng có lẽ thời gian chưa đủ để chú nguôi ngoai đi nỗi nhớ.
Rồi
một hôm, nhớ cô Hoa quá, chú lại tìm đến rượu, rồi ngất ngây ngất ngưởng lò mò
về nhà lăn ra ngủ. Đối với chú, cô Hoa là người đàn bà duy nhất và tất cả của
chú. Chú chưa bao giờ thấy được một người phụ nữ hiền hậu, yêu thương chồng con
như cô, vậy mà cô đã bỏ chú đi sau 7 năm chung sống. Duyên, dù nhỏ nhưng cũng rất
hiểu những tình cảm của ba dành cho mẹ, nên chỉ biết khóc thầm và cầu nguyện
xin Chúa thương xót ba mình, cứu chú ra khỏi vũng lầy này. Mục sư và các anh em
trong Hội thánh cũng đến khuyên chú nhiều lần, chú cũng nghe ra, nhưng rồi nỗi
nhớ thương lại kéo chú chìm vào men rượu…
Một hôm,
Duyên về thủ thỉ với chú về lời Chúa, Duyên nhắc với ba về tình yêu của mẹ. Mẹ
không bao giờ muốn ba sống trong đau khổ, nghiện ngập, nên mẹ sẽ buồn biết bao
khi thấy ba sống như vậy. Rồi Duyên lại nhắc đến lời Chúa trong Kinh thánh: “Đừng
say rượu, vì rượu xui cho luông tuồng; nhưng phải đầy dẫy Đức Thánh Linh”
(Êphêsô 5:18), rồi Duyên lại nói về thân thể của mỗi người là Đền thờ của Đức
Thánh Linh… Chú Tám nghe ra, tự nhiên tỉnh ngộ, chú thấy xấu hổ với những gì
mình đã làm trong thời gian qua, rồi quyết tâm từ bỏ. Té ra những lời khuyên của
người con gái chú hết mực yêu thương lại rất có giá trị…
Từ đó chú bỏ
hẳn rượu, những lúc nhớ vợ quá, chú lại qua nhà thờ, ngồi trên chiếc giường tre
mà những ngày trước vợ chồng từng nằm nghỉ, ra thăm lại cái giếng nơi vợ chú từng
giặt giũ… rồi chú lại ra về trong nỗi buồn sâu thẳm. Những lúc đó, Duyên thường
ở nhà để nói chuyện, săn sóc cho chú đỡ buồn.
Để chuyển đề
tài, tôi hỏi, vậy sao mọi người gọi chú là “Tám dao”. Chú Tám cười ặc ặc. Cái
chuyện nớ hay đó nghe. Là như ri, hồi má con Duyên mất rồi, tau ở nhà buồn lắm,
bởi con Duyên đi học trên trường huyện, cả tuần mới về một lần. Tối hôm nớ,
đang nằm ngủ, tau nghe có tiếng sột soạt nhà trên tư thất, tau vội quơ lấy con
dao xắc chuối khẽ đi lên. Dòm vào khe cửa, có ba thằng ăn trộm đang lục lọi
trong nhà, mà tụi hắn cũng thiệt ngu, tư thất nhà thờ thì có chi mà lấy, tau
giơ con dao lên la làng, bớ làng xóm ăn trộm nhà thờ… Ba thằng hoảng hốt tung cửa
chạy ra, tau cầm dao dí theo, đến cuối đường, mấy chú dân quân đi tuần nghe kêu
chạy theo bắt được… Từ đó tau có biệt danh là “Tám dao”, ai cũng sợ. Tôi hỏi,
mà chú có thích nó không, mình con cái Chúa mà có cái biệt danh hơi “giang hồ”
đó thì khó nghe lắm. Chú Tám cười, thì họ kêu chứ tau đâu có xưng, mà rứa cũng
vui, bởi “Tám dao” lại là “Tao dám”, có tau mới dám chửi lại mấy cái thằng định
lấy đất nhà thờ chớ…
Ờ, nhắc tới
cái chuyện nớ tau lại nhớ tới cái chuyện nhà thờ. Mấy năm đó đâu có ai đi nhóm,
thành thử nhà thờ mình bỏ không. Chiều hôm nớ, mới đi làm về tau nghe bên nhà
thờ có tiếng nói ồn ào, bước qua thì thấy có nhiều người đang phá cổng định vô
làm chi đó. Tau liền chạy qua, hỏi mấy chú tới đây làm chi, tụi hắn nói nhà thờ
bỏ hoang, chừ họ sẽ dùng nó vào chuyện khác. Tau tức mình quá chửi lại, đất đai
ngoài kia biết mấy, muốn làm cái chi không được, răn lại lấy đất ở đây. Nhà thờ
ai nói bỏ hoang, ngày mô tui cũng ở đây, tối mô tui cũng ngủ ở đây, nếu bỏ
hoang thì răn mấy chú thấy sân vườn sạch sẽ, cây cối xanh tốt như rứa… Từ hồi nớ,
tau lại lo chăm sóc nhà thờ kỹ hơn, trồng thêm cây, quét dọn sạch sẽ. Nghe tau
lên nói lại, mục sư nhà thờ dưới huyện liền cử người lên làm lại tường rào, đến
gần Noel thì quét vôi lại cho nó đẹp, bởi rứa, mấy đưa kia đâu còn dám nói nhà
thờ mình bỏ hoang.
Thời gian
sau ni, mục sư nhà thờ dưới huyện thấy tín đồ ở mình ngày càng đông nên biểu họ
về dưới mình nhóm để giữ nhà thờ. Rứa là mỗi chiều Chúa nhật, tau lại mở cửa
nhà thờ cho họ nhóm, khi thì mục sư về, khi thì mấy người nhân sự xuống chia sẻ
lời Chúa. Rồi cũng có người tới gây sự. Họ nói tín đồ về nhà thờ huyện nhóm được
rồi, nhà thờ mình không có mục sư làm sao mà nhóm. Tau ra hỏi, tui hỏi chú, tín
đồ thì đi nhà thờ hay đi chùa. Họ nói đi nhà thờ, thì tau nói, rứa cái chỗ ni
là chùa hay nhà thờ, nhà thờ mô không được, miễn gần là đi, đỡ mất sức. Đi xuống
huyện cả chục cây số, đường xá khó khăn, mấy người già con nít làm răn đi được,
đúng ra mấy ổng phải hoan hô chứ răn lại cản. Họ nói nhà thờ mình không có mục
sư, tau nói không có mục sư thì họ tới cầu nguyện, đọc Kinh thánh, đó cũng là
cách thờ phượng Chúa của người Tin lành… Sau vụ đó, mấy tháng sau ở mình được
công nhận Hội nhánh, có Thầy cô Truyền đạo trẻ mới ra trường về phụ trách.
Có tiếng
chuông điện thoại, chú Tám cầm lên.
- Nè, con Duyên nó dọn cơm rồi đó, qua nhà ăn với cha con
tau một miếng cho vui.
- Ủa, mà răn Duyên biết con về đây?
- Lúc nãy tau có nói với nó rồi. Kỳ rày con bé dễ thương lắm
đó nghe. Mi ngó bộ làm con rễ tau được nghe.
Tôi lắc đầu:
- Chú nói chơi, chứ tụi con lâu rồi đâu có gặp.
- Ờ, từ chối đi con, tới hồi gặp nó rồi mà năn nỉ xin, thì
tau nhất quyết không cho nghe chưa.
Cả hai
chúng tôi cùng cười, tiếng cười như vang vỡ cả không gian vắng lặng trưa hè,
rung rinh những bóng nắng trong các vòm lá xanh mượt nổi bật trên nền trời
trong veo…
(những
ngày nắng hạ)
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét