Thứ Sáu, 12 tháng 12, 2014

TẢN MẠNTHÁNG 12: HUẾ VÀ NHỮNG NGƯỜI CON CHÚA

TẢN MẠN THÁNG 12: HUẾ VÀ NHỮNG NGƯỜI CON CHÚA
Ngày 10/12/2014
Vũ Hướng Dương


Tháng 12 về như một qui luật của thời gian, không đợi cũng đến, mà có đợi thì cũng chứng nấy chuyện. Nói một cách “bình thường nhất” thì, thời gian vẫn là thời gian, không ai có thể ngăn cản bước chân của nó được.
Tháng 12 năm nay có vẻ “lạ lùng” hơn những năm trước, mưa ít, nắng nhiều. Đến những ngày cuối tháng 11 rồi mà trời vẫn lúc nắng lúc mưa, ỏng ẻo như một cô gái tuổi đương thì(?). Dĩ nhiên cũng có những ngày mưa xối xả như trút nước, nhưng vẫn có những ngày “chút nắng, chút mưa” như trêu đùa thiên hạ, đi ra khỏi nhà không mang theo áo mưa thì không được, mà đem theo, có nhiều khi chẳng dùng đến…
Nói thì nói vậy, chứ theo “kinh nghiệm” của bản thân, thì thường đầu tháng 12 ít mưa, thì đến cuối tháng sẽ “lãnh đủ”. Đã từng có những ngày cuối tháng 12, vào dịp Giáng sinh, lạnh đến tê người, tôi phải mặc trên người 3 chiếc áo ấm, vậy mà thấy xương cốt, da thịt mình tê tái. Lạnh đến nổi không muốn bước ra khỏi nhà, mà đúng hơn là bước ra khỏi giường, cứ muốn nằm ì ra đó, chui hẳn trong tấm mền dày mà “hưởng thụ” những phút giây ấm áp.
Nói đến tháng 12, tự nhiên tôi lại nhớ đến những ngày còn bé. Không hiểu cái tuổi mình đã già đến mức độ “nhìn về quá khứ” chưa, nhưng thỉnh thoảng cũng hay nhớ về một thời có ba, có má, còn đầy đủ các anh em trong nhà, cái thời ngây ngô, vô tư như một cơn mưa bóng mây bất chợt, đến rồi đi, chẳng chút ưu phiền, sầu não…
Tôi vẫn nhớ về ngôi nhà nhỏ bên dòng sông An Cựu, cái lạnh ở Huế thật khủng khiếp, sau này tôi mới biết, khi qua đèo Hải Vân, những cái khắc nghiệt của khí hậu đã giảm đi rất nhiều nhờ bức tường chắn thiên nhiên đó. Thời đó, cái hạnh phúc thật đơn sơ, tôi nhận biết được, qua nụ cười, ánh mắt và những lời thì thầm của ba má khi nhìn ba anh em chúng tôi nằm trên chiếc giường gỗ chờ ba má tôi làm kẹo đậu phụng, một món ăn khoái khẩu trong những ngày mưa gió. Rồi tự nhiên tôi lại nhớ một lần má sai đi mua bánh tráng về làm kẹo đậu, những cơn gió mùa đông dữ dội đã làm bể hết mấy cái bánh trên tay tôi, tôi chạy về nhà, nước mắt chảy tràn, còn má tôi thì cứ cười hoài…
Nhớ con đường nhỏ dọc bờ sông, con đường đưa chúng tôi đến trường Thiên Hữu, đến nhà thờ Phú Cam, thế giới của chúng tôi hầu như chỉ gói gọn trong một góc thành phố Huế, nhưng vẫn vô cùng lớn trong những nghĩ suy của chúng tôi lúc bấy giờ. Tôi vẫn còn nhớ những buổi trưa ngồi bên hiên nhà thờ Dòng Chúa Cứu thế, trước trường Thiên hữu, lộng gió, mát mẻ vô cùng, rồi cùng các bạn chạy chơi bên dãy hành lang lớp học, những lần được nghe chuyện kể Kinh Thánh vào thứ hai đầu tuần… Cái thế giới nhỏ bé ấy lại chất chứa bao yêu thương tuyệt vời, nó gắn liền với cái gia đình của tôi, và dù có xa Huế bao nhiêu năm, tôi vẫn không thể nào quên được nó. Sau này, khi có dịp trở lại Huế, dọc theo con đường Nguyễn Huệ, đi ngang nhà thờ Dòng Chúa Cứu thế, nhìn ngôi trường Thiên Hữu đã không còn, nhìn lại cầu Lò Rèn (Kho Rèn?) và dòng sông An Cựu với nhiều đổi thay, trở về tìm lại ngôi nhà xưa, nhưng dấu thời gian đã không còn, vật đổi sao dời, tôi chỉ biết đứng bên bờ sông chụp vài tấm hình để kỷ niệm, để tự nhớ rằng, trong quá khứ xa mờ, cả gia đình: ba má và mấy anh em tôi cũng đã bước đi trên con đường nhỏ này, đã chung sống hạnh phúc trong một căn nhà nhỏ nào đó nơi đây…
Tháng 12 lại là khoảng thời gian làm cho con người càng ngày càng gần nhau. Xích lại một chút cho ấm, gần lại một chút cho đông vui. Tôi lại nhớ chị Thủy và những người bạn đã quên tên, một thời đóng giả cao bồi, uống nước é, bắn súng nước… Rồi rủ nhau tổ chức cắm trại phía sau vườn nhà, đua nhau xuống ao bắt cá, hóa ra toàn là nòng nọc. Rồi nhớ lại, buổi trưa, má tôi viện trợ cho các trại viên món trứng chiên, cùng những trái cà pháo, cà chua nhỏ như ngón tay cái… Dẫu thời gian qua rất lâu, nhưng sao những hình ảnh ấy, những con người ấy vẫn đọng mãi trong ký ức của tôi.
Lần đầu tiên tôi trở lại Huế sau bao nhiêu năm, đó là chuyến đi thăm MS Đinh Văn Tư, khi ông mới ra Huế quản nhiệm, nếu không kể trước đó, hồi còn đi học, tôi có ra Huế thăm một người bạn đang học tại trường Đại học Khoa học Huế. Những ngày tháng 12, Huế lạnh đến không ngờ. Buổi tối, bà MS Đinh Văn Tư đưa cho tôi mượn chiếc áo ấm dày, lại thêm một chú gấu bông to tướng, nằm trong căn phòng kín mít, vậy mà vẫn lạnh thấu xương. Đã thế, tôi còn được nghe nói, lạnh thế này là chưa thấm vào đâu cả, ở đây, có ngày còn lạnh hơn rất nhiều.
Huế đã khác xưa và tôi cũng vậy. Tôi đã là một người con Chúa, chứ không còn là một cậu bé suốt ngày lon ton chạy theo người lớn đi nhà thờ, nhà thờ Phú Cam, Thiên Chúa giáo La mã, chứ không phải nhà thờ Tin Lành như bây giờ. Cái thành phố nhỏ bé nên thơ ngày xưa đã đô thị hóa nhanh chóng, sầm uất hơn rất nhiều. Giữa một cố đô cổ kính, ngôi nhà thờ nằm trên đường Nguyễn Du khá khiêm tốn, và cả thành phố chỉ có một ngôi nhà thờ Tin Lành duy nhất ấy, dĩ nhiên là không kể một số điểm nhóm nhỏ của các hệ phái… Anh Phóng, ông bà Thành, chị Dư, Hồng, Dũng, Lợi…những người con Chúa trên một vùng đất cằn cỗi thuộc linh ấy vẫn như những người lính trận, kiên trì, nhẫn nại với tấm lòng yêu mến Chúa, yêu thương đồng bào mình, vẫn luôn xông xáo ra đi đem Tin Lành đến cho mọi người…
Tự nhiên, tôi lại gắn bó với Huế, không chỉ vì nơi đây có một thời thơ ấu của tôi mà còn là sự gắn kết của tình yêu trong Chúa từ những người anh em không họ hàng này. Tôi vẫn biết con đường trước mắt đầy khó khăn, nhưng với tấm lòng khát khao hầu việc Chúa của họ, trông cậy ơn yêu thương của Ngài, Tin Lành ngày sẽ được nhiều người biết đến ở thành phố cổ kính này. Dĩ nhiên, đó cũng là chuyện của nhiều năm trước, bây giờ, Hội Thánh đã có quản nhiệm mới, có những con người mới, một thế hệ trẻ hơn, sôi động hơn, năng lực hơn, và mong rằng sẽ kết quả nhiều hơn cho nhà Chúa trong những ngày này…
Ngày tôi trở về, chị Dư gởi cho tôi một phong bì, nói là để bù tiền xăng cho tôi. Đến cây xăng dưới chân đèo Phú Gia, tôi mới biết chị gởi cho tôi một món quà khá lớn. Thú thật, đây là lần đầu tiên có một người cho tôi như vậy. Quãng đường về nhà còn rất xa, nhưng cái tình của những người con Chúa đã làm tôi thấy gió mưa, giá lạnh mùa đông hình như không còn là trở ngại, có chăng nó làm cho cuộc sống thêm phần thi vị, mà những cuộc hành trình có mưa, có nắng mới đầy kỷ niệm.
Xin cảm ơn Cha yêu thương đã cho tôi những tháng ngày phước hạnh. Dẫu chỉ là hạt cát nhỏ trong sa mạc, không chức phận, nhưng được làm người đầy tớ bé nhỏ của Chúa đã là vinh dự lớn lao nhất của tôi rồi, còn gì sánh bằng. Và tôi, với “niềm tự hào” ấy, vẫn mãi lên đường với bài ca muôn thuở: Bước với Chúa yêu thương. Ôi, tháng 12 thật tuyệt vời.
VŨ HƯỚNG DƯƠNG

TÌNH MIỀN TÂY

TÌNH MIỀN TÂY
Ngày 25/11/2014
 Vũ Hướng Dương


Trong lòng tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình có thể đến được miền tây, và cái cảm giác hưng phấn cho đến bây giờ vẫn còn ở trong con người tôi. Dĩ nhiên, cũng sẽ có người nói rằng, ơ, miền tây thì có gì, tôi đi hoài, cả trăm lần. Vâng, nhưng đối với một kẻ “quê mùa” như tôi, thì dĩ nhiên cái lần đầu tiên này rất quan trọng, bởi những cảm xúc vô cùng chân thực và nó khiến tôi không thể nào quên, nhất là cái “Tình miền tây”
Sau khi xuống chuyến xe từ Vĩnh Long đi Sóc Trăng, anh Út Lý đón tôi tại đầu cầu Hưng Lợi. Từ đây xuống nhà anh, An Thới Tây, cũng mấy chục cây số. Tôi, vừa háo hức, vừa lạ lẫm với những cảnh vật miền tây nên cứ hết nhìn bên này, nhìn bên kia, nhìn mãi mà không thấy chán.
Nhà anh Út Lý ở dọc theo bờ sông, cách nhà thờ không xa lắm. Mới bước vào chào hỏi, chị Út Lý đã hỏi tôi:
-        Chú thứ mấy?
-        Dạ thứ tư.
Vậy là từ đó về sau, tôi được gọi là “chú tư”, thật gần gũi và thân mật, còn cái tên “ruột thịt” của tôi, nó đã biến đi đâu mất rồi.
Nhà của anh chị Út Lý khá rộng, hầu như cả ngày chỉ ở nhà dưới thôi, ít lên nhà trên. Thú thật, ở đây, lần đầu tiên tôi thấy con tắc kè, da trắng to hơn con chuột bò trên một góc nhà, nó trông cũng khá dạn dĩ. Vườn nhà anh chị trồng toàn nhãn, mà đang mùa nhãn nên chín khá nhiều.
Anh Út Lý trước cây me cổ thụ trong vườn nhãn

Sông nước miền tây, phía xa kia chỉ là cù lao giữa sông, còn bờ sông xa gấp hai ba lần nữa..
Anh Út Lý rủ tôi qua vườn chơi, một khu vườn khác nằm gần đường lộ, vừa để hái ít nhãn tặng cho các anh chị em Cựu Cô nhi Nha Trang. Khu vườn ở miền tây luôn có những hào đấy nước chung quanh, thật sự khác hẳn ở quê tôi. Vườn nhãn của anh Lý thật rộng, anh thì đi hái, còn tôi thì cứ… ăn thoải mái. Mới đầu thấy thì thèm, nhưng thật ra,, ăn đâu được bao nhiêu, những trái nhãn to tròn, ngọt lịm, thật là một món quà tặng quí báu mà Thiên Chúa dành cho vùng đất này. Tôi vẫn biết, đây không phải là khu vườn rộng nhất, nhưng với hàng trăm cây nhãn đang mùa ra hoa kết trái thì đối với kẻ “quê mùa” như tôi thật là vĩ đại rồi.
Buổi chiều, anh Út Lý định chở tôi lên Cần Thơ chơi, nhưng trời đổ mưa rất lớn nên tôi đành phải ngồi nhà, ngồi ngắm mưa. Cơn mưa rất lớn, và đi qua cũng nhanh, nhưng cũng đủ làm cho cả khu vườn ngập tràn cả nước. Ở đây, vẫn còn một vài nhà lợp bằng lá dừa nước, anh Út Lý nói lợp lá mát lắm, nhưng lợp thưa thì mau hư, còn lợp dày thì sợ chuột làm ổ, mà thật vậy, buổi sáng tôi mới tới, đã thấy một anh tí bò tỉnh bơ trên vách nhà…
Tối hôm đó, anh Út Lý rủ tôi đi nhóm tại nhà một tín hữu gần. Tình cờ, tôi gặp lại Trần Giám, một anh em thông tín viên tại Sóc Trăng. Chúng tôi lại cùng hàn huyên tâm sự về công việc. Anh Giám hồ hởi làm chứng cho tôi nghe về những người bị quỉ ám, được Chúa chữa lành qua lời cầu nguyện của Hội Thánh. Tôi bảo:
-        Vậy thì ông nên viết mấy bài làm chứng đi, hiện nay Bản tin Mục vụ có chuyên mục “Có một người như thế” rồi.
Anh Giám lại bảo:
-        Tôi viết cũng được nhưng mà không hay, anh viết mới hay(?).
Vậy là tự nhiên tôi lại mắc nợ với nơi này, xin hẹn một ngày trở lại, và biết đâu đó cũng là cái cớ để tôi có thể gặp lại anh chị em trong Chúa nhiều hơn, học hỏi được nhiều điều quí báu hơn cho cuộc hành trình theo Chúa của mình.
Sáng hôm chia tay, anh chị Lý đi từ lúc 4g sáng vì phải đến dự lễ Tấn phong Mục sư tại Bến Tre, còn tôi thì 7g mới lên đường về lại thành phố. Tôi vẫn còn nhớ như in câu nói của anh chị trước khi lên đường:
-        Chú Tư ở nhà rồi đi sau nhé, cho gởi lời thăm gia đình.
Cái “chú Tư” ấy sao mà ngọt ngào, tình cảm đến vô cùng. Tự nhiên, không bà con, không họ hàng, chỉ có chút xíu dính dáng thôi: Cựu cô nhi Tin Lành Nha Trang, vậy mà tôi lại được trở nên một thành viên, gần như thật sự, của gia đình anh chị Út Lý. Cũng có thể, đối với những người ở đây, gọi nhau theo thứ tự trong gia đình là lẽ thường tình, nhưng dẫu sao, đối với bản thân tôi, đấy là cái tình cảm thắm thiết và chân chất nhất mà tôi từng gặp.
Những thì giờ cuối cùng ở Sóc Trăng, tôi ngồi uống cà phê cùng người con rễ của anh chị Út Lý. Chuyến xe Hoa Mai đến hơi trễ một chút, cũng không sao, tôi lại có thêm chút thời gian để nhìn ngắm Sóc Trăng, một mảnh đất màu mỡ miền tây mà lần đầu tiên tôi được đến. Ngẫm đi ngẫm lại, tôi chợt nhận ra thế giới này quá bao la, bao la không chỉ về mặt không gian nhưng bởi sự phong phú, đa hình đa dạng, mỗi nơi mỗi khác. Có đi mới biết, và dù có đi nhiều đến đâu thì cũng không thể hết được cái thế giới bao la này. Đúng là kiến thức hữu hạn.
Giã từ Sóc Trăng, con đường thênh thang những dòng sông, phố xá. Và trong lòng tôi cũng mênh mang một nổi nhớ, những tình cảm được sẻ chia tại một vùng quê thật ấm cúng. Cảm ơn Chúa và cảm ơn anh chị Út Lý, đã cho những tháng ngày tuyệt vời tại Sóc Trăng, miền tây đất nước, những tháng ngày không thể nào quên đối với một kẻ hay “lang thang” như tôi và tôi lại ước mong có ngày trở lại An Thới Tây, để được nhìn những dòng sông mênh mông đêm ngày rộn tiếng ghe thuyền qua lại, được dạo chơi trong những khu vườn cây trái xum xuê, và nhất là được gần những con người thật sự dễ thương, dễ mến…
VŨ HƯỚNG DƯƠNG

Thứ Năm, 20 tháng 11, 2014

NHỮNG TẤM LÒNG

NHỮNG TẤM LÒNG
Ngày 24/10/2014
 Vũ Hướng Dương


             Chương trình mừng tân gia và bàn giao nhà trẻ Nhân Ái đã xong. Tất cả anh chị em đều mỏi mệt, nhưng vui. Cái niềm vui thật khó tả, bởi mỗi người mỗi tâm trạng, mỗi hoàn cảnh. Riêng tôi, tự biết rằng, những ngày phiêu du sắp kết thúc để trở về với tổ ấm của mình, một khoảng thời gian qua đi thật thú vị với nhiều kỷ niệm khó quên.
Tuy nhiên, điều đọng lại trong tôi lúc này đó là tấm lòng của những người cựu cô nhi Tin Lành Nha Trang, những người đa số đã bước qua tuổi 50, thậm chi có người đã xấp xỉ 70 rồi. Họ đang làm những công việc khác nhau, khác nhau nhiều đến có thể nói, nếu không có cái “tình cô nhi” thì họ khó có thể quen biết nhau, chưa nói đến việc chung tay góp sức để làm một việc gì lớn, có ích cho xã hội, cho Hội Thánh. Người thì kỹ sư, kẻ là doanh nhân, người khác là giáo viên, có người là nội trợ, thậm chí không ít người đã nghỉ hưu, rồi cũng có khá nhiều người dâng mình hầu việc Chúa trong mọi chức vụ…
Cơ sở nhà trẻ nằm trong một khu dân cư yên tỉnh, yên tỉnh đến không ngờ, khiến đôi khi tôi có cảm giác mình đang ở một thế giới khác hẳn với mọi người chung quanh. Mỗi căn phòng mỗi màu sắc, tất cả những trang thiết bị cần thiết, hầu như đã đầy đủ, chuẩn bị cho công tác tiếp đón và nuôi dạy các em nhỏ mồ côi. Nghe bài chia sẻ của Mục sư Nguyễn Hữu Bình mà ai nấy đều cảm động rơi nước mắt. ông nói bằng tất cả tấm lòng của một cựu cô nhi và là một mục sư. Con đường anh chị em đã đi qua thật đáng trân trọng bởi nó đã vượt qua được những rào cản cá nhân, những toan tính hẹp hòi, bé nhỏ để vươn tới một các đích lớn hơn, cụ thể hơn, đó là thể hiện lòng biết ơn Chúa, nhớ ơn các bậc tiền nhân để tiếp tục con đường chăm sóc nuôi dạy các em nhỏ mồ côi trở thành những người con Chúa, những người công dân tốt cho xã hội. Con đường phía trước còn khó khăn, chông gai hơn rất nhiều. Nuôi một đứa trẻ một ngày, rất dễ. Nuôi một tháng cũng không khó. Nuôi một năm đã có vấn đề. Nuôi đến mười sáu năm thật là một vấn đề lớn, đòi hỏi tâm huyết, chung sức chung lòng của biết bao nhiêu con người. Vấn đề đối nội, đối ngoại cũng luôn làm đau đầu những người quản lý. Làm sao để cho người ta hiểu được sự vô tư, tính chân thật, và tấm lòng yêu thương của mình trong việc nuôi dạy trẻ. Chỉ có thời gian và những thành quả đạt được mới có thể chứng mình được một cách hùng hồn những việc mình làm, chứ không phải bằng những lời nói hoa mỹ. Cầu xin Chúa thêm sức cho anh em…
Mỗi tấm lòng những người ở đây đều cùng chung một nhịp đập. Họ như những ngọn đồi nhỏ đã làm nên trùng điệp núi cao. Họ là những con suối nhỏ tụ họp thành dòng sông nhân ái bao la. Chính từ những gì rất nhỏ, rất bình thường ấy, theo tiếng gọi của Chúa, họ đã làm được những việc tốt đẹp cho nhà của Chúa. Cám ơn những tấm lòng của các anh chị em, nhất là những người đi tiên phong, vượt qua đầu sóng ngọn gió để có được ngày hôm nay. Họ hy sinh thì giờ, tiền bạc, công sức để xây dựng nên một ngôi nhà, biểu tượng của lòng biết ơn Chúa, nơi tiếp nối truyền thống tốt đẹp của Cô nhi viện Tin Lành Nha Trang ngày trước.
Những nụ cười, niềm vui hôm nay rồi sẽ qua. Những bóng hình thân thương nào đó rồi cũng sẽ tàn phai. Bước thời gian không vội nhưng rất vô tình, và chúng ta, dù có níu kéo bao nhiêu, tất cả cũng chỉ là những hạt sương mai vội vã bay đi trong nắng sớm vừa lên. Chỉ có tình yêu Thiên Chúa là còn mãi mãi, nó không hiện diện trong góc nhà gỗ đá, trên những con đường rộng rãi thênh thang; nó hiện diện trong từng trái tim, trong tấm lòng biết yêu thương của những người con Chúa. Chính điều đó đã làm cho cuộc sống ngập tràn phước hạnh cho dù vẫn có lắm phong ba, bão táp…
VŨ HƯỚNG DƯƠNG

BÀI HỌC TỪ HỘI THÁNH ĐẦU TIÊN: YÊU THƯƠNG VÀ CHIA SẺ

BÀI HỌC TỪ HỘI THÁNH ĐẦU TIÊN: YÊU THƯƠNG VÀ CHIA SẺ
Ngày 13/09/2014
 Vũ Hướng Dương


Buổi chiều tối nọ, khi đi làm về ngang qua một góc phố nhỏ, tôi thấy một cảnh tượng thật đáng suy nghĩ. Bên kia đường là một cô bé đẩy cùng lúc hai chiếc xe lăn đi dạo. Cô sắp hai chiếc xe lại với nhau, chiếc trước, chiếc sau, và cô đẩy cả hai chiếc cùng chạy.
Một hình ảnh của sự tương trợ. Với một người, chỉ có thể đẩy một chiếc xe, nhưng ở đây chiếc xe được đẩy đó, lại đẩy chiếc xe còn lại để cả hai được lăn bánh trên đường.
Một hình ảnh của sự sẻ chia. Cả hai đều được hưởng thụ thành quả mà đáng lý ra, theo lẽ bình thường, chỉ một chiếc được đẩy đi.
Tự nhiên tôi nhớ đến câu tục ngữ của ông bà ta để lại: “Lá lành đùm lá rách”, và sau này người ta lại thêm vào: “Lá rách ít đùm lá rách nhiều”.
Trong thực tế, nếu biết đùm bọc, sẻ chia với nhau về mọi điều, có lẽ cuộc sống này sẽ hạnh phúc hơn rất nhiều. Sẽ bớt đi những người suốt đời không có một mái nhà, những người chưa bao giờ được ngủ trên một chiếc giường ấm êm, ăn một bữa ngon lành… Đó là nói về vật chất, nếu về tinh thần, thì khi có sự sẻ chia tình cảm, sẽ bớt đi biết bao tâm hồn đau khổ vì thiếu thốn tình yêu gia đình, người thân, và tất nhiên, nếu có sự sẻ chia về Tin Lành ắt sẽ bớt đi rất nhiều linh hồn đang bị tội lỗi xích xiềng.
Trong ngày lễ Ngũ tuần, sau khi được đầy dẫy Đức Thánh Linh, những môn đồ của Chúa đã trở thành những người mạnh mẽ, ra đi rao truyền Tin Lành cứu rỗi của Chúa Giê-xu. Sau bài giảng đầy ấn tượng của sứ đồ Phierơ tại thành Giêrusalem, đã có đến ba ngàn người tin Chúa (một con số rất ấn tượng, và ngày nay cũng rất khó đạt được như vậy), và Hội Thánh Chúa đã được thành lập từ những người tin Chúa đâu tiên như vậy.
“Vả, những người ấy bền lòng giữ lời dạy của các sứ đồ, sự thông công của anh em, lễ bẻ bánh, và sự cầu nguyện. Mọi người đều kính sợ, vì có nhiều sự kỳ phép lạ làm ra bởi các sứ đồ. Phàm những người tin Chúa đều hiệp lại với nhau, lấy mọi vật làm của chung. Bán hết gia tài điền sản mình mà phân phát cho nhau, tùy sự cần dùng của từng người. Ngày nào cũng vậy, cứ chăm chỉ đến đền thờ; còn ở nhà, thì bẻ bánh và dùng bữa chung với nhau cách vui vẻ thật thà, ngợi khen Đức Chúa Trời và được đẹp lòng cả dân chúng. Mỗi ngày Chúa lấy những kẻ được cứu thêm vào Hội thánh.”  (Công vụ 2: 42-47).
Hội Thánh đầu tiên, là HT đầy tình yêu thương và sự sẻ chia. “Phàm những người tin Chúa đều hiệp lại với nhau, lấy mọi vật làm của chung. Bán hết gia tài điền sản mình mà phân phát cho nhau, tùy sự cần dùng của từng người.”. Họ sống với nhau thật chân tình, chia sẻ mọi điều, mọi thứ mà họ có, chính vì thế mà HT đầu tiên là một HT mẫu mực và phát triển rõ rệt. Có nhiều điều chúng ta có thể học tập ở HT đầu tiên, ở đây tôi chỉ xin nhắc đến tình yêu thương và chia sẻ của họ đối với mọi người. Hình như không còn khoảng cách giữa cái “tôi” và cái “ta”, tất cả đều là một. Thật là một HT đúng nghĩa. Sự phước hạnh ngập tràn. Rất nhiều tấm gương trong thời gian này đã được Kinh Thánh ghi lại: Đôca (Tabitha), Lyđi…
Lời Chúa đã dạy: “Nếu ai có của cải đời nầy, thấy anh em mình đương cùng túng mà chặt dạ, thì lòng yêu mến Đức Chúa Trời thể nào ở trong người ấy được!” (I Giăng 3:17).
Chúng ta không thể quên được những HT, những cá nhân, sẵn lòng giúp đỡ các HT khác một cách rộng rãi, đó là điều đáng quí. Và chính nhờ những tấm lòng yêu thương HT, anh em mình như vậy, mà nhiều nhà thờ, nhà nguyện được dựng lên, đáp ứng nhu cầu thờ phượng Chúa của bao tín hữu vùng xa, cũng nhờ sự giúp đỡ ấy mà nhiều tín hữu nghèo có cơ hội vươn lên trong cuộc sống.
Bên cạnh đó, hiện nay, nhiều HT chúng ta dâng tiền cho Chúa, và xin Chúa dùng món tiền đó để làm những việc lớn và khó cho nhà Chúa. Tuy nhiên việc chi dùng những món “tiền của Chúa” thường chỉ trong phạm vi hạn hẹp, chúng ta hay dùng tiền đó để chi cho riêng HT mình mà ít nghĩ đến các HT khác. Trong thực tế, có HT tiền tự trị khá nhiều, dùng không hết, gởi ngân hàng lấy lãi, thì cũng có khá nhiều HT không có đủ tiền để mua một mảnh đất vài ba trăm triệu, xây dựng nhà nguyện, nhà nhóm tạm cho con dân Chúa thờ phượng Ngài. Ở đây, chúng ta thấy, hình như thiếu sự sẻ chia, những đồng tiền dâng cho Chúa hầu như chỉ được dùng cho HT địa phương, còn sự tiếp trợ, hỗ trợ cho những anh em mình, hầu như rất nhỏ giọt. “Tiền của Chúa”, nếu được san sẻ một cách bài bản, đồng đều, thiết nghĩ không bao lâu, tất cả những nhu cầu của các HT đều được đáp ứng mà không cần những cuộc vận động, quyên góp gì.
Ước mong những đồng tiền dâng cho Chúa sẽ đem lại thêm nhiều lợi ích hơn nữa cho nhà Ngài, qua sự yêu thương và chia sẻ cho nhau. Bài học từ HT đầu tiên vẫn còn đó.
VŨ HƯỚNG DƯƠNG

CÁI CHỖ NGỒI

CÁI CHỖ NGỒI
Ngày 08/08/2014 

              Tôi và Duyên bước vào ngôi nhà thờ.
Không có ai cả. Phía bên tư thất cũng đóng cửa, chắc là Thầy Truyền đạo đã đi vắng. Khung cảnh vẫn yên bình như bao ngày, vẫn những hàng cây tỏa rộng bóng mát giữa nắng hè, vẫn tiếng ve inh ỏi từng hồi như tiếng còi tàu từ phương nào vọng lại, cái giai điệu đó, chúng tôi đã nghe biết bao nhiêu lần rồi mà vẫn thấy thích thú khi gặp lại, hình như mỗi lần mỗi khác nên không hề nhàm chán một chút nào. Trong nhà thờ, tuy không trồng phượng, nhưng phía bên kia vẫn có một vài cây ven đường khiến cho không khí mùa hè càng thêm đậm nét. Những tháng ngày mùa hè vẫn chưa đi qua, và những dấu ấn kỷ niệm của một thời vẫn còn đó…
Hàng ghế cuối chính là hàng ghế kỷ niệm của chúng tôi, ngày mới quen, cũng như sau này. Tôi vẫn nhớ như in hình ảnh Duyên ngồi bên tôi, đôi mắt to và sáng, mái tóc để dài, khuôn mặt tròn tròn đó đã gắn bó với cuộc đời tôi, thật là tuyệt vời. Những tháng ngày ấy, tôi thường hay về dưới này đi nhóm, lúc đầu là những lần về quê thăm nội, dần dần là về để được gặp một người, người mà ai cũng biết…
Chú Tám, hồi ấy, khi biết tôi và Duyên quen nhau, không nói gì. Chú chỉ nói với mọi người, cái thằng nớ được đó. Gặp tôi, chú chỉ cười cười, tuy nhiên, tôi vẫn không thể tự nhiên như thường ngày, vẫn có chút gì đó ngượng nghịu.
Khi đi nhà thờ, chúng tôi thường ngồi ở hàng ghế cuối, không phải là tín đồ yếu đuối hay đi trễ, nhưng vì để cho người khác ít để ý, vì biết thì “quê” lắm. Dĩ nhiên, sau một thời gian, cả Hội Thánh, ai cũng biết cả. Rồi tự nhiên cái chỗ ngồi đó thành ra riêng của hai chúng tôi, nếu hôm nào, chúng tôi đến trễ, mọi người vẫn nhường cho chúng tôi, Hội Thánh vùng quê mà, rất chân chất và đầy yêu thương.
Những khi tôi không về được, Duyên cũng đi học xa, cả hai chúng tôi vẫn thường nhắc nhau về cái chỗ ngồi đó, điều đối với mọi người có vẻ bình thường nhưng với chúng tôi nó lại là nhịp cầu kết nối yêu thương. Sau này, dù đã về trên thành phố, mỗi lần về thăm lại ngôi nhà thờ đã một thời gắn bó ấy, chúng tôi vẫn cố gắng để được ngồi lại cái chỗ mà mình ưa thích. Đôi khi, chỗ đó lại có người khác, chúng tôi lại thì thầm với nhau, không hiểu họ sẽ kết quả như chúng tôi không, thật là những điều thú vị…
-Hai đứa mới về hả?
Chúng tôi quay lại, hóa ra là chú Tám.
-Dạ.
Chú Tám hỏi tiếp:
-Về, răng không ghé qua nhà?
Duyên nói:
-Dạ, con có ghé qua mà không thấy ba, không biết ba đi đâu, thành thử qua nhà thờ chơi một chút, cũng không thấy thầy Truyền đạo đâu.
-Ờ, ổng đi công việc rồi. Sáng ni ba qua vét dùm cái giếng cho ổng, mấy bữa ni trời nóng quá, cạn hết nước. Không có nước dùng, Thầy cô phải đi lấy nước tận xóm dưới, xa lắc.
Tôi hỏi:
-Con hỏi thiệt chú nghe, hồi xưa, chú đi nhà thờ hay ngồi chỗ mô nhất?
-Tao hả, hồi chưa có má con Duyên thì tao ngồi dưới ni. Hồi có rồi, thì hai vợ chồng ngồi đầu hàng ghế thứ hai đó.
Chú dẫn chúng tôi lên, chỉ vào chiếc ghế. Tôi nhìn nó, đã bao năm tháng rồi nhưng những vết mòn vẫn còn hằn lên mặt gỗ như là  dấu ấn của thời gian để lại không bao giờ phai mờ. Tôi hình dung hai con người hạnh phúc, chú Tám và cô Hoa, rồi sau này, có thêm một bé gái, Hữu Duyên, ngồi ở nơi đây. Dù chỗ ngồi là vô tri vô giác, nhưng tôi biết chắc, chú Tám cũng như tôi, cũng yêu quí những kỷ niệm một thời của mình.
Tôi hỏi đùa chú:
-Có hồi mô hai người giận, không ngồi cùng nhau không chú?
-Cái thằng. Chú Tám cười. Tao với má con Duyên mà giận nhau hả. Nói rứa, chớ cũng có khi. Con người mà, cũng có lúc nắng lúc mưa. Hồi mô, giận là má con Duyên ngồi nhích ra một chút, tao biết rứa, cứ ngồi im, rồi người nhích qua, người nhích lại, cuối giờ nhóm, hồi mô cũng huề…
-Hai người tình cảm quá nghe.
-Ờ, má con Duyên hiền hòa, chịu thương chịu khó lắm. Bởi rứa mới chịu được cái tính cứng đầu của tao chớ.
Chú Tám vẫn vậy, dù đã là ông gia nhưng vẫn xưng “tao” với tôi, còn tôi thì vẫn “chú” như hồi nào. Bà nội tôi la hoài, nhưng tôi thấy ngượng thế nào ấy, gọi “chú” quen rồi, mà chú Tám hình như cũng thích như vậy.
Tôi nhìn chú Tám, vui vui, nhưng hình như chú đang nhớ. Có lẽ những kỷ niệm ngày xưa lại tràn về trong tâm trí chú, và tôi biết chắc rằng, dù thời gian có qua đi bao nhiêu nữa, chú vẫn không thể nào quên được người phụ nữ mà Chúa đã ban cho chú, một người vợ tuyệt vời.
Những ngày sau khi cô Hoa không còn nữa, chú Tám vẫn thường ngồi trên hàng ghế thứ hai ấy. Nhiều người biết ý, không bao giờ họ ngồi bên cạnh chú như muốn để cho chú một không gian riêng, một không gian để nhớ lại người vợ thương yêu của mình. Tuy vậy, như lời chú kể lại, sau này chú không còn ngồi một chỗ nữa. Tôi hỏi:
-Rứa chú ngồi chỗ mô?
-Tao ngồi nhiều chỗ lắm.
-Ủa, sao vậy.
-Ờ, không biết sao, chứ ngồi một chỗ miết rồi cũng buồn. Có khi thì ngồi với ông Sáu Danh, hồi bà Sáu vừa mới qua đời. Tao với ổng hồi xưa là bạn cùng lứa, mà bả cũng rứa. Hồi nớ, tao định tán bả mấy lần rồi, nhưng không được, té ra ông Sáu Danh quen với bả từ hồi lâu lắc. Tao giận ổng mấy tháng vì không nói trước, làm tao bị bẻ mặt. Nói rứa chớ rồi cũng chơi với nhau, tuổi trẻ mà. Hai đứa biết không, ở đây, từng gốc cây, ngọn cỏ, từng con đường đều là kỷ niệm của tao với ổng.
-Rồi có hồi tao ngồi với mấy đứa nhỏ, tụi hắn đi nhà thờ ồn lắm, thành thử mình xuống nhắc nhở nó im lặng, không được nói chuyện, mà phải lắng nghe bài giảng. Có khi ngồi với bà Chín Hường, con trai bả mất trong tai nạn giao thông. Tội nghiệp, một mình nuôi bốn đứa con nên người, thành đạt, yêu mến Chúa không phải dễ đâu nghe. Chồng bả, hồi xưa nhỏ hơn chú hai tuổi, nhưng cũng chơi với nhau như bạn bè đồng lứa.
Duyên hỏi:
-Ba ngồi nhiều chỗ rứa à?
-Ờ, thì nhiều chớ. Vui nhất là có lần nhà thờ đang nhóm, mới đây thôi. Có mấy người lạ lạ vô nhà thờ, tao xuống ngồi với họ, té ra là thân hữu, đi thăm bà con ở xóm mình, thấy nhà thờ nhóm họ cũng vô ngồi coi thử. Nói chuyện, làm chứng miết rồi cũng được hai người tin Chúa. Tao mừng lắm. Từ đó, tao cũng biết nhiều hơn, hóa ra ai cũng có tâm sự hết, cũng có nỗi lo hết. Chỉ có trò chuyện, gần gũi, thì mới hiểu được cuộc sống của nhau, biết để mà cầu nguyện, để mà sẻ chia. Đó là trách nhiệm, nghĩa vụ của mình mà, những người con Chúa với nhau mà không hiểu nhau, không giúp được nhau thì thiệt là vô lý…
Gần bên những người vừa mất người thân, chú Tám hiểu thêm được một điều, mất mát cũng là qui luật của cuộc sống. Sớm muộn gì rồi cũng sẽ có một cuộc chia tay giữa hai người và điều quan trọng là trong những ngày gần nhau trước đó, chúng ta đã đối xử với nhau như thế nào, có để lại những gì đẹp đẽ cho nhau không? Và chúng ta có giữ vững được đức tin để gặp nhau trong Nước Chúa không? Gần mấy đứa trẻ nhỏ, chú Tám lại nhớ đến Duyên, đứa con gái yêu thương của chú. Nói chuyện, chơi đùa với chúng, hình ảnh Duyên như vẫn còn bên chú, rồi hình cô Hoa như vẫn hiện diện cùng chú trong cuộc sống, chú bỗng cảm nhận được tình yêu thương chính là mấu chốt để cuộc sống này có nhiều ý nghĩa. Ngồi tâm sự cùng các thân hữu, chú mới thấy được cuộc đời không có Chúa bất hạnh như thế nào, họ vẫn mãi đi tìm, loay hoay trong khoảng hẹp của cuộc đời và hạnh phúc chân thật hình như là một món quà quá xa xỉ đối với những người chưa biết Chúa.
Chú Tám nhìn cái ghế cuối nhà thờ:
-Ghế kỷ niệm của hai đứa đây phải không? Răng, nhìn hắn thì nhớ nhiều lắm hả. Bữa mô nhà thờ thanh lý mấy cái ghế, ráng để dành tiền mua cái ghế ni đem về làm kỷ niệm, mười triệu một cái nghe con.
Cả ba chúng tôi cùng cười. Cái chỗ ngồi tưởng chừng như vô nghĩa nhưng thật ra rất quí giá đối với những ai trân trọng quá khứ. Riêng với chú Tám, chỗ ngồi kỷ niệm của chú không còn là của riêng chú nữa, bây giờ nó gắn liền với nhiều người, mỗi người mỗi hoàn cảnh, nhưng tất cả đều là sự sẻ chia chân thành của những tình cảm, những cung bậc yêu thương, mà cuộc sống rất cần những điều như vậy.
Ờ nhỉ, cái chỗ ngồi tuy bình thường nhưng đôi khi lại trở thành một mối dây kết nối tình yêu thương của nhiều người, tôi và Duyên chắc chắn cũng sẽ làm như vậy, bắt đầu cuộc sẻ chia yêu thương với những người ngồi bên cạnh…
VŨ HƯỚNG DƯƠNG

BÍ MẬT CỦA ÔNG TÁM

BÍ MẬT CỦA ÔNG TÁM
Ngày 05/06/2014 

Thằng Huy chồm đầu nhìn qua vườn nhà ông Tám, nó thấy ổng nằm trên cái giường tre, ngủ say sưa dưới gốc cây nhãn. Thoải mái thiệt, hóa ra nghèo như vậy mà sướng. Bên nhà nó, nóng quá chịu không nổi. Buổi trưa, cái khối bêtông trở thành cái lò nướng bánh mì, càng mở quạt thì lại càng nóng, nó phải nằm ở dưới nền gạch, hy vọng tìm được chút hơi mát. Thật là trái ngược, vườn nhà ông Tám, gió từ bờ sông thổi lên từng hồi, thấy mấy cành mận rung qua rung lại mà nó bắt thèm.
Thật ra, thằng Huy bắt đầu “chú ý” đến ông Tám đã lâu, từ khi ổng mới đi nhà thờ. Hồi đó, nghe mọi người nói ổng gia nhập đạo Tin Lành, họ đã xì xào nhiều, vào đạo chắc sẽ được cho gạo, tiền; chính vì thế nên ông Tám mới đi chớ. Nói thì nói vậy, nhưng cũng không ai trách ông, vì nhà ổng nghèo rớt mồng tơi, kiếm chút gạo ăn cũng là chuyện bình thường. Nhưng rồi, nó cũng đâu thấy bên nhà thờ giúp gì cho ổng đâu, chỉ thấy lâu lâu có mấy người tới, hát hò to lắm, rồi nói “amen, amen”. Mỗi lần như vậy, ông Tám vui lắm. Ông chuẩn bị bàn ghế, quét nhà sạch sẽ, dọn dẹp khu vườn, y như đón tổng thống vậy(?). Kỳ rày, ổng siêng đọc sách hơn hồi xưa, thằng Huy thấy cứ chiều chiều, hễ rảnh rỗi thì ông Tám hay ra ngồi dưới gốc mận đọc cái quyển sách dày cộm, cứ đọc một chút, ngồi lại nghỉ ngơi, trông ông có vẻ vui lắm. Không biết cuốn sách gì mà lạ vậy?
Ông Tám đi nhà thờ, siêng năng lắm. Sáng Chúa Nhật nào, thằng Huy cũng thấy ổng dậy sớm, tay cầm cuốn sách là lạ đó, vui vẻ chào mọi người trên đường đi. Khi về cũng vậy, dù nhiều khi, trời nóng, mồ hôi chảy đầy người, nhưng ông vẫn không có vẻ gì là mệt nhọc, thậm chí còn hát nữa, mà giọng hát của ông Tám thì khỏi nói, như cái loa bass nhà thằng Huy bị bể bao đời…
Ông Tám thay đổi nhiều lắm, ổng không còn ghé quán bà Sáu Đắng trước ngõ để uống rượu nữa. Đôi khi nó nghĩ, hay là ổng sợ mọi người thấy nên mua về nhà uống, nhưng bà Sáu khẳng định với nó là ông Tám bỏ uống rượu luôn rồi. Ổng có ghé quán bà chơi, ổng nói, bữa ni ổng đã tin Chúa, không được uống rượu, nên có ghé thì cũng chỉ là để mua mấy đồ dùng lặt vặt, hỏi thăm sức khỏe, uống ly nước rồi về, chẳng qua là cái tình hàng xóm láng giềng thôi.
Thằng Huy ngạc nhiên nhất là cái hôm ông Tám xuống nhà bà cụ Năm Hường ở cuối xóm. Bà Năm Hường hai mắt đã không còn thấy đường, con cháu không có, sống trong một căn nhà lụp xụp do hàng xóm làm cho. Bà sống chỉ nhờ sự giúp đỡ của chính quyền và mấy người chung quanh. Ông Tám đến thăm và cho bà mấy lon gạo với một số tiền nhỏ, tuy không nhiều nhưng bà rất mừng. Nhưng thằng Huy không thắc mắc về điều đó, cái nó thắc mắc là ông Tám lấy ra đâu gạo, tiền để cho bà Hường, vì ông cũng thuộc diện đói nghèo mà, ăn không đủ thì lấy đâu mà giúp người ta. Mà chuyện này, lại làm ông vui lắm, nó thấy ông khi về, vừa đi vừa hát, có vẻ sung sướng lắm, quả là kỳ lạ. Chắc chắn là phải có bí mật chi đây, thật là khó hiểu.
Nghĩ đi nghĩ lại, kinh tế nhà ông Tám cũng không có gì khá lên sau khi đi nhà thờ, chỉ thấy ổng vui hơn trước. Hồi xưa, mỗi lần gặp nó, ông đều làm lơ, xem như không thấy. Nó biết ông không ưa gì nó, cái thằng hay chui rào, qua nhà hái trộm mận, nhãn… của ông, mà chúng lại là miếng cơm của ông. Có lần ông bắt gặp nó đang hái trộm mận, ông qua nhà nói với ba mẹ, nó bị đánh cho một trận, rồi đâu lại vào đó. Thật ra, nó cũng chẳng phải là đứa phá phách, chỉ thèm ăn vặt một chút thôi, vì thế mỗi lần nó cũng chỉ hái chục quả là nhiều, chứ đâu muốn phá hoại nhà người ta. Tuy nhiên, nó “vi phạm” nhiều lần quá, nói hoài cũng chán, thành thử cuối cùng ông cũng “chấp nhận” chuyện nó hái trái cây nhà ông là chuyện bình thường, dù vậy, ông vẫn rất khó chịu khi thấy nó lảng vảng trước nhà mình.
Lần nay thì khác, nó mới chui qua rào, thì ông đã thấy rồi. Ông nói:
- Con đó hả Huy, lâu nay không thấy qua nhà ông Tám chơi?
“Lâu nay”, với “chơi”, khiến nó cảnh giác, bởi nó có bao giờ qua nhà ông chơi đâu, chỉ là để hái trộm thôi. Trong lúc nó còn đang phân vân không biết trả lời thế nào thì ông Tám nói tiếp:
- Nì, mấy cây mận bữa ni nhiều trái lắm nghe, có rảnh, con hái dùm ông. Ăn bao nhiêu thì ăn, còn lại để ông đem ra cho bà Sáu bán kiếm ít đồng.
Chà, cái chiêu này cũng được đây, có mận ăn mà không bị mang tiếng hái trộm, nó thầm nghĩ, phải chi ông Tám nói sớm sớm thì nó đâu phải chui rào chi cho mệt…
Kể từ đó, nó không còn hái trộm nữa. Ngồi bên nhà ngó qua, hễ khi nào thấy mận chín nhiều, nó tự giác qua hái giúp ông, dĩ nhiên là nó cũng tự thưởng cho mình nữa, thậm chí, có khi nó đem mận ra nhà bà Sáu bán giúp ông. Tuy nhiên, trong lòng nó cứ thắc mắc một điều là ông Tám có bí mật gì mà lạ quá. Ông thay đổi rất nhiều, vui vẻ hơn, hiền hòa, mà chẳng còn than phiền hay cau có như trước. Chính ba má nó ở nhà cũng nói như vậy. Mà nói gì thì nói, chẳng ai biết được lý do gì làm ông Tám thay đổi, hay là ổng có của kín cha mẹ để lại mà không ai biết, đoán thì đoán vậy, nhưng cuối cùng nó cũng đành chịu.
Chiều nay, nó đánh liều qua nhà ông Tám. Ngồi chơi một chút, nó hỏi:
- Con hỏi thiệt ông Tám nghe?
- Chuyện chi?
- Ông đi Tin Lành, họ cho ông nhiều tiền, gạo lắm hở?
Ông Tám cười ngặt nghẽo:
- Thằng cha mi, ai nói rứa, hóa ra ông tin Chúa là vì tiền hở?
- Chứ răng con nghe người ta nói rứa mà.
- Thì người ta đồn tầm bậy. Làm chi có cái đạo nào đem tiền, gạo ra dụ người khác.
- Rứa tiền gạo đâu mà ông Tám cho bà Hường, rồi răng ông Tám bỏ rượu được, con nghe người ta nói, uống rượu quen rồi, khó bỏ lắm.
- Ờ, khó bỏ lắm con à.
- Rồi làm răng ông bỏ được?
- Cái nớ thì cũng không biết nữa. Ông Mục sư trên nhà thờ nói, tin Chúa không nên uống rượu, uống rượu ảnh hưởng sức khỏe, say xỉn làm hại mình, hại người khác. Ổng biểu phải cầu nguyện, thật lòng xin Chúa ban cho mình ý chí để bỏ rượu. Ông nghe lời, cầu nguyện, tự nhiên thấy thanh thản, không thèm nữa, thì bỏ thôi chứ có chi đâu. Mà thiệt ra, hồi mới đầu cũng có khi thèm ghê lắm, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, mình lớn rồi, chẳng lẽ cái chuyện bỏ rượu mà không làm được thì làm sao nói chuyện với mọi người, mà mình đã là con Chúa rồi… Vậy mà từ từ rồi cũng bỏ được. Nói cho nghe, trước khi tin Chúa, ông cũng nhiều lần muốn bỏ, nhưng mà không được. Đến như bà Sáu Đắng đó, mà cũng biểu ông đừng uống nữa, nhưng hắn như có tà, đã uống rồi, cứ thèm hoài, khó bỏ lắm…
- Mà cầu nguyện là răng?
- Là nói chuyện với Chúa đó.
- Ông nói chuyện được với Chúa?
- Chớ răng, hễ ai là con Chúa thì nói chuyện được với Ngài, giống như mình nói chuyện nè…
Thằng Huy trố mắt, ngạc nhiên vô cùng, nó không ngờ ông Tám bắt đầu từ khi đi nhà thờ lại giỏi như vậy.
- Còn chuyện ông giúp bà Hường?
- Cái đó còn dễ hơn nhiều. Xuống đây.
Ông Tám dẫn thằng Huy xuống nhà dưới chỉ vào cái lu nhỏ để ở một góc nhà, có cả một cái lon Coca.
- Chi rứa ông?
- Bí mật là ở đó. Mỗi lần nấu cơm, ông bốc bớt một nhắm gạo bỏ vô hủ, lâu lâu được ít lon, gói ghém đem xuống cho bà Hường, hoặc cho người khác, ai nghèo hơn mình đó. Còn tiền hả, cái lon Coca đó, mỗi lần đi chợ, ông bỏ vô đó một hai, nghìn. Tích tiểu thành đại, góp gió thành bão mà con, lâu ngày cũng có được một ít chớ.
- Ơ, rứa mà lâu nay con tưởng ông có ai cho.
- Cha mi, ai mà cho ông. Mà có cho thì ông cũng để dành cho người khác, chứ ông thì không cần lắm, sống như ri đủ rồi. Ngó thử, nhà ông không có quạt, nhưng buổi trưa hỏi thử nhà mô mát hơn không? Nghèo như ông cũng sống qua ngày, cũng giúp được người khác, rứa là thỏa lòng rồi. Chúa Nhật, có gạo ăn hay không, không cần biết, áo quần chỉnh tề, đàng hoàng, sạch sẽ, tới nhà thờ, thờ phượng Chúa, sung sướng quá rồi chứ còn chi nữa.
Thằng Huy ngồi trên cái giường tre, lắc lư cái chân, hỏi:
- Mấy bữa con thấy ông Tám đọc cái quyển sach dày lắm, sách chi rứa?
- Ủa, mi theo dõi ông hả, cái thằng thiệt. Sách bí mật đó.
- Bí mật?
- Nói chơi thôi, bí mật chi chớ. Ai tin Chúa cũng nên đọc, nên học, phải đọc, phải học. Kinh Thánh đó con, lời của Chúa được chép lại cho mọi người đọc, trong nớ dạy nhiều điều hay lắm. Có điều ông chưa hiểu hết, chỉ đọc mấy chỗ dễ hiểu thôi. Khi mô hiểu biết nhiều, ông kể cho nghe.
- Còn bữa trước, con thấy ông với mấy người nhà thờ hát chi chi đó là răng?
- Hát Thánh Ca đó. Ở trong Hội Thánh, người ta thường đến thăm nhau, cùng nhau hát những bài hát ca ngợi Chúa, cầu nguyện cho nhau…
- Cầu nguyện? Cầu nguyện là nói với Chúa phải không ông?
- Cái thằng, mới nói lúc này mà nhớ cũng giỏi hỉ? Cầu nguyện xin Chúa ban phước cho mình, giữ gìn mình, thêm cho mình sức mạnh để mình không làm điều sai, có sự khôn ngoan để làm điều tốt cho mình, cho mọi người. Cầu nguyện xin Chúa ban cho sự bình an…
- Con thấy ông Tám biết đủ thứ quá, mà răng ông mới đi nhà thờ có mấy tháng mà biết nhiều ghê rứa?
- Thì mỗi Chúa nhật đi nhà thờ là mỗi lần học hỏi, ở nhà đọc Kinh Thánh là để hiểu biết thêm… Còn cái ni nữa nè, quan trọng lắm.
Ông Tám vừa nói vừa tỏ ra khoái chí lắm. Thằng Huy rất tò mò:
- Chi rứa ông?
- Ông được tham gia lớp học, vài bữa  nữa tốt nghiệp sẽ đi làm chứng cho mọi người.
- Ông làm chi mà phải ra tòa làm chứng?
- Cái thằng, ra tòa chi, làm chi có ra tòa. Làm chứng là… là đi nói về Chúa cho mọi người đó. Làm chứng là nói về những gì mình đã có được khi tin Chúa, ví dụ như ông bỏ được rượu nè, biết yêu thương, quan tâm đến người khác nè. Thôi để, hôm nào học xong đầy đủ, biết nhiều rồi nói mới được. Chừ ông vẫn còn yếu lắm, chưa hiểu biết nhiều đâu.
Nói rồi, ông Tám phấn khởi lắm, ông vào trong nhà lấy cho thằng Huy mấy quyển sách nhỏ: Lời An ủi, Bảy điều cần nhất trên đời… Ông dặn đem về nhà coi rồi sẽ hiểu thêm Đạo Chúa, chứ bây giờ ông nói chưa suông sẻ được.
- Nhớ giữ mấy cuốn Truyền đạo đơn cẩn thận nghe, bữa sau cho người khác đọc nữa.
- Truyền… đơn hả ông ?
- Cái thằng, Truyền đạo đơn chớ, làm chi có truyền đơn ở đây. Truyền đạo đơn là sách nói về truyền đạo, về đạo Chúa đó. Ông chỉ mới tin Chúa, mày hỏi hoài, ông bí, bữa sau không cho ăn mận nữa đó nghe.
Thấy ông Tám cười khoái chí mà thằng Huy cũng cười theo. Nó nói:
- Ông cho con bỏ bùng binh như ông với nghe, con cũng muốn làm chi đó giúp người ta.
Ông Tám cười:
- Ờ cũng được, nhưng phải bỏ riêng, không được bỏ chung, tiền ai nấy cất. Để coi ai để dành nhiều hơn chớ.
- Còn chuyện ni nữa, đi nhà thờ có khó không ông?
- Chuyện dễ như ăn ớt, ờ mà không phải, ăn ớt cay lắm, dễ như… ăn mận, mà mận đàng hoàng chớ không phải hái trộm nghe.
Ông Tám vừa nói vừa cười, thằng Huy biết ông nói nó, nhưng nó không giận vì ông  không có gì là trách nó cả.
- Muốn đi thì Chúa Nhật ni, xin phép ba mẹ rồi đi với ông, ở đó vui lắm và ai cũng tốt cả. Già, xấu như ông mà họ còn đón tiếp niềm nở, huống chi là con, đẹp trai, phông độ…
Cả hai ông cháu cười vang. Vậy là thằng Huy đã biết được bí mật của ông Tám, cái bí mật bình thường quá, nhưng không phải ai cũng có, nó biết chắc chắn là vậy…

VŨ HƯỚNG DƯƠNG