
“Ngày nọ, Thầy Truyền đạo nói với mấy đứa nhỏ:
- Mình
nhóm lại cũng đã lâu, các con đã hiểu biết lời Chúa tương đối rồi. Hôm nay, Thầy
muốn các con nghĩ đến việc phải làm sao để có được một ngôi nhà nguyện cho riêng
mình, không thể cứ nhóm ngoài trời, mượn nhà của người khác được.
- Xây
nhà nguyện, đứa nào cũng tỏ ra thích thú. Bọn chúng là những đứa trẻ lang
thang, không còn người thân thích, chúng là đủ nghề, bán báo, đánh giày… để kiếm
sống. Chúng được Thầy Truyền đạo làm chứng và hướng dẫn nhóm thờ phượng Chúa
vào mỗi chiều Chúa nhật. Ngôi nhà nguyện, đúng là một mơ ước chung của tất cả bọn
trẻ. Bỗng một đứa hỏi:
- Thưa
Thầy, nhưng tụi em làm gì có tiền để mà xây nhà nguyện?
- Các
em phải có niềm tin vào sự quan phòng của Chúa, nhưng trước hết, các em phải biết
dâng hiến, để thể hiện tấm lòng của mình, Thầy tin chắc rằng Chúa sẽ mở đường
cho chúng ta.
Thế rồi cả bọn cùng nhau dâng hiến. Đứa nhiều,
đứa ít, nhưng tất cả là những gì mà chúng đã để dành bấy lâu nay. Một đứa ngập
ngừng nói với Thầy Truyền đạo:
- Em
không có tiền vậy, em không dâng được không Thầy?
- Cũng
được, nhưng em không nhớ lời bài Thánh Ca 374 sao: Mau dâng cho Chúa bao điều tốt
nhất, thời thanh xuân luôn cả năng lực…
- Vậy
em có 3 viên bi mà em rất quí, em dâng cho Chúa được không?
Thầy Truyền đạo hơi bất ngờ, suy nghĩ một lác
rồi ông nói:
- Cũng
được, Chúa sẽ chấp nhận tấm lòng của em.
Mấy đứa trẻ còn lại, tuy không dám cười, đứa
nào cũng cố nín vì cái vẻ ngây ngô của bạn mình. Làm sao có thể xây dựng nhà
nguyện với chỉ 3 viên bi.
Sáng Chúa nhật tuần sau, Thầy Truyền đạo chia
sẻ giữa Hội Thánh về nhóm trẻ mà thầy đang phụ trách. Chúng đang có nhu cầu xây
dựng nhà nguyện và đã dâng được một ít tiền và… 3 viên bi. Cả Hội Thánh ai nấy
cũng buồn cười, có người lại nghĩ Thầy Truyền đạo nói vui. Tuy nhiên, thầy vẫn
bình tỉnh, nói về nhu cầu của các em và xin Hội Thánh cầu nguyện cho các em. Bỗng
phía dưới, có bàn tay dơ lên:
- Tôi
xin mua lại 3 viên bi đó với giá một trăm ngàn đô la được không?
Cả Hội Thánh sửng sốt, người mua là một người
giàu có, nhưng kín tiếng.
Cuối cùng, ngôi nhà nguyện của đám trẻ đã được
xây xong và người ta gọi đó là “Nhà thờ Ba viên bi”, bởi ba viên bi đó đã được
dâng lại cho nhà thờ và được đặt trong một chiếc hộp gương xinh xắn để hằng
ngày, mọi người có thể chiêm ngưỡng nó, và cảm nhận được phép lạ, quyền năng của
Đức Chúa Trời đã làm trên con dân Ngài, những tấm lòng trong trắng, ngây thơ của
những đứa trẻ nghèo…”
Thầy Truyền đạo phụ trách vừa kể xong câu chuyện,
bọn trẻ đều im lặng. Hoàn cảnh của chúng cũng không khác mấy đứa kia mấy, cũng
mồ côi, cũng là trẻ em vô gia cư, và cũng đang khát khao có một nơi nhóm lại
tươm tất.
- Hôm
nay, Thầy cũng giống như vị Truyền đạo trong câu chuyện, muốn mấy em nghĩ đến
việc chúng ta sẽ xây dựng một nhà nguyện cho riêng mình, và chúng ta cũng bắt đầu
bằng việc dâng hiến, các em hãy dâng bằng chính tấm lòng biết ơn Chúa của mình.
Sau khi các bạn dâng tiền, Tuấn nói với Thầy
Truyền đạo:
- Em
có một cái này, muốn dâng cho Chúa, để mong Chúa làm phép lạ như bạn trong câu
chuyện.
- Cái
gì vậy?
- Dạ,
cái ca bằng inox. Đây là kỷ vật của ba em để lại, ba quí nó lắm, nhưng em không
hiểu vì sao. bởi nó đã bị lủng. Hôm nay, em cũng xin dâng cho Chúa, cầu xin
Chúa làm phép lạ để chúng em mau có tiền làm nhà nguyện.
Thầy Truyền đạo khá lúng túng. Câu chuyện mà
ông vừa kể, chẳng qua là ông nghe một vị Tôi tớ Chúa thuật lại trong bài giảng,
chẳng biết nó có thật hay không. Hôm nay, ông kể lại để khích lệ tinh thần của
bọn trẻ, hóa ra nó làm thật. Bây giờ, ông cũng không biết giải thích thế nào,
và chỉ biết thầm nguyện với Chúa, nghe lời
cầu xin của ông và của đám trẻ, và biết đâu, điều kỳ diệu nào đó lại xảy ra.
Ông cầm cái ca inox trong tay, nhìn ánh mắt
sáng ngời của Tuấn mà cũng thấy vui vui. Trẻ em có khác, ngây thơ và trong
sáng, đúng như lời Chúa nói: “…Hãy để con trẻ đến cùng ta, đừng cấm chúng nó;
vì nước Đức Chúa Trời thuộc về những kẻ giống như con trẻ ấy. ” (Mac 10:14).
Đúng là cái ca này không thể làm gì được bởi nó đã bị lủng, móp méo, nhưng
nguyên nhân vì sao thì ông không thể biết, nhất là tại sao ba của Tuấn lại quí
nó. Nghe Tuấn nói, ông gìn giữ nó rất cẩn thận và nói với ông, con hãy giữ kỹ
cái ca này, vì nó là kỷ niệm của đời ba. Tuấn trân trọng điều đó, và cho đến
bây giờ nó vẫn giữ lấy cái ca, cho dù thời gian trôi qua đã lâu.
Chúa nhật tuần sau đó, ông báo cáo với Hội
Thánh về chuyện của đám trẻ. Mọi người cũng tỏ ra cảm động với những gì đã xảy
ra, nhưng không có một bàn tay nào đưa lên… Thầy Truyền đạo buồn lắm, ông biết,
vẫn có khoảng cách giữa những câu chuyện giáo dục và thực tế cuộc sống, nhưng
dù sao, ông cũng mong một điều gì đó xảy ra, để khích lệ bọn trẻ, và chính cả
ông nữa.
Sinh hoạt với nhóm trẻ được hai năm nay, ông
hiểu chúng rất rõ, mỗi đứa mỗi hoàn cảnh, nói chung rất đáng thương. Đa số đều
mồ côi, hoặc giả nếu còn cha hay mẹ, thì cũng rất nghèo khổ, không thể nuôi
chúng qua ngày nổi, chứ chưa nói đến chuyện cho ăn học. Ông tình cờ gặp Tuấn lần
đầu tiên trước một quán nước nhỏ. Gia đình Tuấn đã không còn ai, nghe nói ba Tuấn
trước đây đã đi bộ đội và qua đời mấy năm trước. Mẹ Tuấn đã mất khi cậu bé mới
có hai tuổi, Tuấn không có người thân, chính vì vậy, mới mười tuổi đầu, Tuấn đã
phải tự nuôi sống bản thân mình bằng nghề bán báo dạo. Thầy Truyền đạo làm chứng
về Chúa cho Tuấn, ông kể về tình yêu thương vĩ đại của Đức Chúa Trời, Ngài là
“Cha của kẻ mồ côi” mà. Tuấn cho biết, trước đây, gia đình mình cũng đã tin
Chúa, nhưng sau khi ba mất, Tuấn hoàn toàn mất phương hướng và không còn đi
nhóm lại nữa. Hôm đó, ông đã dẫn em về sống dưới mái ấm tình thương, ngôi nhà
dành cho đám trẻ có hoàn cảnh khó khăn mà Hội Thánh đang cưu mang…
Chiều tối hôm đó, một người đàn ông lạ đến
thăm Thầy Truyền đạo. Ông nói rằng, ông trước đây là một tín hữu của Hội Thánh,
thời gian sau này đã định cư tại nước ngoài. Lúc sáng, ông có nghe nói về một
cái ca inox cũ mà một đưa trẻ đã dâng, ông xin phép được xem nó.
Khi cầm chiếc ca trong trong tay, người khách
lạ bồi hồi, xúc động nói:
- Đúng
là chiếc ca đã cứu mạng tôi và bạn tôi rồi.
Hóa ra trước đây, ông cùng đơn vị với ba của
Tuấn trong quân ngũ. Hai người trở nên thân nhau khi biết người kia cũng là một
người con Chúa. Họ thân thiết với nhau như anh em, và những khi gặp nhau, đều động
viên nhau sống cho thật tốt, giữ gìn đức tin cho dù hoàn cảnh có như thế nào.
Trong một lần bị địch tập kích, lúc đó ông
đang bị đau và được ba Tuấn săn sóc, cho uống nước. Một viên đạn đã tình cờ bay
trúng chiếc ca, nó đã cứu mạng của cả hai người. Họ đã quì gối cầu nguyện cảm tạ
Chúa, và xem chiếc ca lủng đó như là một kỷ vật của tình bạn giữa hai người.
Kể từ khi ra nước ngoài, ông đã không còn liên
lạc gì với người bạn cũ. Đây là lần đầu tiên về thăm quê hương, ông rất buồn vì
người bạn thân đã qua đời, nhưng cũng rất vui khi biết được Tuấn, con của người
bạn vẫn còn tin Chúa. Ông cũng rất biết ơn Tuấn, dù hoàn cảnh khó khăn, nhưng vẫn
gìn giữ kỷ vật của cha, cho dù em có thể bán nó đi bất cứ lúc nào cho những người
mua bán ve chai.
Suy nghĩ một lúc lâu, ông nói với Thầy Truyền
đạo:
- Điều
này, tôi xin Thầy giữ kín cho đến khi hoàn thành. Trước mắt, tôi xin dâng một
ít tiền, vì thật ra, bản thân tôi cũng không khá giả lắm. Khi tôi về lại bên
kia, tôi sẽ thưa với Hội Thánh, vận động các bạn bè, hy vọng sẽ có đủ để giúp
cho việc xây dựng nhà nguyện. Xin Chúa cảm động lòng họ, thấy được tâm tư, tấm
lòng của mấy đứa trẻ, để sớm có đủ kinh phí và bắt tay vào việc trong thời gian
sớm nhất. Bây giờ, tôi với Thầy cùng đi thăm cháu Tuấn và những người bạn của
nó…
Thầy Truyền đạo trong lòng như được mở một nút
thắt lớn. Những điều đã xảy ra với ông có thể không giống hoàn toàn với những
gì ông đã kể cho bọn trẻ, nhưng rõ ràng, Chúa đã thấy nổi lòng của ông và bọn
trẻ, Ngài đã điều hướng mọi sự thật tốt lành. Ông cảm tạ Chúa, và sẽ báo tin
vui này cho mấy đứa trẻ, à, mà cũng chưa báo được, vì như lời người kia, phải
giữ kín cho đến khi hoàn thành. Thôi thì, cũng đành chấp nhận vậy, nhưng ông
tin chắc một ngày không xa, tin vui sẽ đến với Hội Thánh, với bọn trẻ, vì Đức
Chúa Trời của chúng ta là Đấng đầy lòng yêu thương và vô cùng giàu có mà…
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét