Thứ Năm, 20 tháng 11, 2014

CÁI CHỖ NGỒI

CÁI CHỖ NGỒI
Ngày 08/08/2014 

              Tôi và Duyên bước vào ngôi nhà thờ.
Không có ai cả. Phía bên tư thất cũng đóng cửa, chắc là Thầy Truyền đạo đã đi vắng. Khung cảnh vẫn yên bình như bao ngày, vẫn những hàng cây tỏa rộng bóng mát giữa nắng hè, vẫn tiếng ve inh ỏi từng hồi như tiếng còi tàu từ phương nào vọng lại, cái giai điệu đó, chúng tôi đã nghe biết bao nhiêu lần rồi mà vẫn thấy thích thú khi gặp lại, hình như mỗi lần mỗi khác nên không hề nhàm chán một chút nào. Trong nhà thờ, tuy không trồng phượng, nhưng phía bên kia vẫn có một vài cây ven đường khiến cho không khí mùa hè càng thêm đậm nét. Những tháng ngày mùa hè vẫn chưa đi qua, và những dấu ấn kỷ niệm của một thời vẫn còn đó…
Hàng ghế cuối chính là hàng ghế kỷ niệm của chúng tôi, ngày mới quen, cũng như sau này. Tôi vẫn nhớ như in hình ảnh Duyên ngồi bên tôi, đôi mắt to và sáng, mái tóc để dài, khuôn mặt tròn tròn đó đã gắn bó với cuộc đời tôi, thật là tuyệt vời. Những tháng ngày ấy, tôi thường hay về dưới này đi nhóm, lúc đầu là những lần về quê thăm nội, dần dần là về để được gặp một người, người mà ai cũng biết…
Chú Tám, hồi ấy, khi biết tôi và Duyên quen nhau, không nói gì. Chú chỉ nói với mọi người, cái thằng nớ được đó. Gặp tôi, chú chỉ cười cười, tuy nhiên, tôi vẫn không thể tự nhiên như thường ngày, vẫn có chút gì đó ngượng nghịu.
Khi đi nhà thờ, chúng tôi thường ngồi ở hàng ghế cuối, không phải là tín đồ yếu đuối hay đi trễ, nhưng vì để cho người khác ít để ý, vì biết thì “quê” lắm. Dĩ nhiên, sau một thời gian, cả Hội Thánh, ai cũng biết cả. Rồi tự nhiên cái chỗ ngồi đó thành ra riêng của hai chúng tôi, nếu hôm nào, chúng tôi đến trễ, mọi người vẫn nhường cho chúng tôi, Hội Thánh vùng quê mà, rất chân chất và đầy yêu thương.
Những khi tôi không về được, Duyên cũng đi học xa, cả hai chúng tôi vẫn thường nhắc nhau về cái chỗ ngồi đó, điều đối với mọi người có vẻ bình thường nhưng với chúng tôi nó lại là nhịp cầu kết nối yêu thương. Sau này, dù đã về trên thành phố, mỗi lần về thăm lại ngôi nhà thờ đã một thời gắn bó ấy, chúng tôi vẫn cố gắng để được ngồi lại cái chỗ mà mình ưa thích. Đôi khi, chỗ đó lại có người khác, chúng tôi lại thì thầm với nhau, không hiểu họ sẽ kết quả như chúng tôi không, thật là những điều thú vị…
-Hai đứa mới về hả?
Chúng tôi quay lại, hóa ra là chú Tám.
-Dạ.
Chú Tám hỏi tiếp:
-Về, răng không ghé qua nhà?
Duyên nói:
-Dạ, con có ghé qua mà không thấy ba, không biết ba đi đâu, thành thử qua nhà thờ chơi một chút, cũng không thấy thầy Truyền đạo đâu.
-Ờ, ổng đi công việc rồi. Sáng ni ba qua vét dùm cái giếng cho ổng, mấy bữa ni trời nóng quá, cạn hết nước. Không có nước dùng, Thầy cô phải đi lấy nước tận xóm dưới, xa lắc.
Tôi hỏi:
-Con hỏi thiệt chú nghe, hồi xưa, chú đi nhà thờ hay ngồi chỗ mô nhất?
-Tao hả, hồi chưa có má con Duyên thì tao ngồi dưới ni. Hồi có rồi, thì hai vợ chồng ngồi đầu hàng ghế thứ hai đó.
Chú dẫn chúng tôi lên, chỉ vào chiếc ghế. Tôi nhìn nó, đã bao năm tháng rồi nhưng những vết mòn vẫn còn hằn lên mặt gỗ như là  dấu ấn của thời gian để lại không bao giờ phai mờ. Tôi hình dung hai con người hạnh phúc, chú Tám và cô Hoa, rồi sau này, có thêm một bé gái, Hữu Duyên, ngồi ở nơi đây. Dù chỗ ngồi là vô tri vô giác, nhưng tôi biết chắc, chú Tám cũng như tôi, cũng yêu quí những kỷ niệm một thời của mình.
Tôi hỏi đùa chú:
-Có hồi mô hai người giận, không ngồi cùng nhau không chú?
-Cái thằng. Chú Tám cười. Tao với má con Duyên mà giận nhau hả. Nói rứa, chớ cũng có khi. Con người mà, cũng có lúc nắng lúc mưa. Hồi mô, giận là má con Duyên ngồi nhích ra một chút, tao biết rứa, cứ ngồi im, rồi người nhích qua, người nhích lại, cuối giờ nhóm, hồi mô cũng huề…
-Hai người tình cảm quá nghe.
-Ờ, má con Duyên hiền hòa, chịu thương chịu khó lắm. Bởi rứa mới chịu được cái tính cứng đầu của tao chớ.
Chú Tám vẫn vậy, dù đã là ông gia nhưng vẫn xưng “tao” với tôi, còn tôi thì vẫn “chú” như hồi nào. Bà nội tôi la hoài, nhưng tôi thấy ngượng thế nào ấy, gọi “chú” quen rồi, mà chú Tám hình như cũng thích như vậy.
Tôi nhìn chú Tám, vui vui, nhưng hình như chú đang nhớ. Có lẽ những kỷ niệm ngày xưa lại tràn về trong tâm trí chú, và tôi biết chắc rằng, dù thời gian có qua đi bao nhiêu nữa, chú vẫn không thể nào quên được người phụ nữ mà Chúa đã ban cho chú, một người vợ tuyệt vời.
Những ngày sau khi cô Hoa không còn nữa, chú Tám vẫn thường ngồi trên hàng ghế thứ hai ấy. Nhiều người biết ý, không bao giờ họ ngồi bên cạnh chú như muốn để cho chú một không gian riêng, một không gian để nhớ lại người vợ thương yêu của mình. Tuy vậy, như lời chú kể lại, sau này chú không còn ngồi một chỗ nữa. Tôi hỏi:
-Rứa chú ngồi chỗ mô?
-Tao ngồi nhiều chỗ lắm.
-Ủa, sao vậy.
-Ờ, không biết sao, chứ ngồi một chỗ miết rồi cũng buồn. Có khi thì ngồi với ông Sáu Danh, hồi bà Sáu vừa mới qua đời. Tao với ổng hồi xưa là bạn cùng lứa, mà bả cũng rứa. Hồi nớ, tao định tán bả mấy lần rồi, nhưng không được, té ra ông Sáu Danh quen với bả từ hồi lâu lắc. Tao giận ổng mấy tháng vì không nói trước, làm tao bị bẻ mặt. Nói rứa chớ rồi cũng chơi với nhau, tuổi trẻ mà. Hai đứa biết không, ở đây, từng gốc cây, ngọn cỏ, từng con đường đều là kỷ niệm của tao với ổng.
-Rồi có hồi tao ngồi với mấy đứa nhỏ, tụi hắn đi nhà thờ ồn lắm, thành thử mình xuống nhắc nhở nó im lặng, không được nói chuyện, mà phải lắng nghe bài giảng. Có khi ngồi với bà Chín Hường, con trai bả mất trong tai nạn giao thông. Tội nghiệp, một mình nuôi bốn đứa con nên người, thành đạt, yêu mến Chúa không phải dễ đâu nghe. Chồng bả, hồi xưa nhỏ hơn chú hai tuổi, nhưng cũng chơi với nhau như bạn bè đồng lứa.
Duyên hỏi:
-Ba ngồi nhiều chỗ rứa à?
-Ờ, thì nhiều chớ. Vui nhất là có lần nhà thờ đang nhóm, mới đây thôi. Có mấy người lạ lạ vô nhà thờ, tao xuống ngồi với họ, té ra là thân hữu, đi thăm bà con ở xóm mình, thấy nhà thờ nhóm họ cũng vô ngồi coi thử. Nói chuyện, làm chứng miết rồi cũng được hai người tin Chúa. Tao mừng lắm. Từ đó, tao cũng biết nhiều hơn, hóa ra ai cũng có tâm sự hết, cũng có nỗi lo hết. Chỉ có trò chuyện, gần gũi, thì mới hiểu được cuộc sống của nhau, biết để mà cầu nguyện, để mà sẻ chia. Đó là trách nhiệm, nghĩa vụ của mình mà, những người con Chúa với nhau mà không hiểu nhau, không giúp được nhau thì thiệt là vô lý…
Gần bên những người vừa mất người thân, chú Tám hiểu thêm được một điều, mất mát cũng là qui luật của cuộc sống. Sớm muộn gì rồi cũng sẽ có một cuộc chia tay giữa hai người và điều quan trọng là trong những ngày gần nhau trước đó, chúng ta đã đối xử với nhau như thế nào, có để lại những gì đẹp đẽ cho nhau không? Và chúng ta có giữ vững được đức tin để gặp nhau trong Nước Chúa không? Gần mấy đứa trẻ nhỏ, chú Tám lại nhớ đến Duyên, đứa con gái yêu thương của chú. Nói chuyện, chơi đùa với chúng, hình ảnh Duyên như vẫn còn bên chú, rồi hình cô Hoa như vẫn hiện diện cùng chú trong cuộc sống, chú bỗng cảm nhận được tình yêu thương chính là mấu chốt để cuộc sống này có nhiều ý nghĩa. Ngồi tâm sự cùng các thân hữu, chú mới thấy được cuộc đời không có Chúa bất hạnh như thế nào, họ vẫn mãi đi tìm, loay hoay trong khoảng hẹp của cuộc đời và hạnh phúc chân thật hình như là một món quà quá xa xỉ đối với những người chưa biết Chúa.
Chú Tám nhìn cái ghế cuối nhà thờ:
-Ghế kỷ niệm của hai đứa đây phải không? Răng, nhìn hắn thì nhớ nhiều lắm hả. Bữa mô nhà thờ thanh lý mấy cái ghế, ráng để dành tiền mua cái ghế ni đem về làm kỷ niệm, mười triệu một cái nghe con.
Cả ba chúng tôi cùng cười. Cái chỗ ngồi tưởng chừng như vô nghĩa nhưng thật ra rất quí giá đối với những ai trân trọng quá khứ. Riêng với chú Tám, chỗ ngồi kỷ niệm của chú không còn là của riêng chú nữa, bây giờ nó gắn liền với nhiều người, mỗi người mỗi hoàn cảnh, nhưng tất cả đều là sự sẻ chia chân thành của những tình cảm, những cung bậc yêu thương, mà cuộc sống rất cần những điều như vậy.
Ờ nhỉ, cái chỗ ngồi tuy bình thường nhưng đôi khi lại trở thành một mối dây kết nối tình yêu thương của nhiều người, tôi và Duyên chắc chắn cũng sẽ làm như vậy, bắt đầu cuộc sẻ chia yêu thương với những người ngồi bên cạnh…
VŨ HƯỚNG DƯƠNG

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét