Thứ Tư, 9 tháng 9, 2015

TRUYỆN: NGỌN ĐỒI CỦA NẮNG

TRUYỆN: NGỌN ĐỒI CỦA NẮNG



Buổi sáng thật yên tĩnh. Mấy con chim sẻ nhảy nhót trước hiên nhà tìm thức ăn một cách vô tư, không một chút sợ sệt, làm như tôi không hề tồn tại đối với chúng nó. Nghĩ cũng đúng, bởi ngày nào chúng cũng đến đây vào buổi sáng như một thói quen, thế rồi, khi nắng lên nhiều thì chúng cũng vội vã bay đi, để lại một không gian yên ắng vẫn còn vọng lại tiếng ríu rít kêu tự bao giờ.

Con đường phía trước cũng vắng hẳn, nó ngoằn ngoèo chạy qua hàng tre phía sau đồng ruộng, rồi khuất dần sau những hàng cây xanh phía xa tắp. Ở đó có một con suối nhỏ, con suối gắn liền với tuổi thơ chúng tôi, gắn liền với những buổi trưa hè nắng dội cả đất trời, với những lần vượt lũ trong mùa mưa gió. Cái con suối có khi hiền hòa như một đứa trẻ, lại cũng có khi dữ dội như một nhân vật phản diện trong phim ảnh, nhưng bây giờ nó bỗng trở nên im lắng với dòng nước lững lờ trôi trong buổi sáng bình yên nơi quê nhà. Phía sau con suối, ngọn đồi nhỏ vẫn nằm im lặng trong nắng mai như muốn sưởi ấm, làm cho tan đi những giọt sương nào còn muốn níu kéo chút lạnh giá của đêm qua…

Phương là một người khá hiếu động, sôi nổi, rất nhiệt tình trong công việc. Do học lực cũng khá nên Phương có nhiều thời gian rảnh rỗi để tham gia cùng với các bạn sinh viên làm công tác xã hội. Trong một chuyến đi từ thiện, tôi đã làm quen với Phương, một cô gái nước da rất trắng, tóc dài, khuôn mặt tròn với đôi mắt to. Nhà Phương ở tận Gia Lai, nhưng nghe nói gốc gác ở nơi khác, chính vì vậy, dù vào trong này khá lâu, nhưng giọng nói của Phương vẫn còn âm hưởng, nửa nọ nửa kia, nghe khá lạ. Phương hát không hay, nhưng bè khá tốt, chất giọng cũng “độc”, hơi khàn. Chính vì vậy, những giọng ca sinh viên đều thích nhờ Phương bè giúp cho mình, và với tính cách củamình, Phương có lẽ chưa một lần nào từ chối. Từ ngày tin Chúa, Phương thay đổi khá nhiều. Rất siêng năng học Lời Chúa, chăm việc Hội Thánh, luôn lo nghĩ đến công tác từ thiện, giúp đỡ người khác. Có thể nói Phương là người dễ hòa đồng, luôn vui vẻ với mọi người. Điều đó chắc đúng, vì đi đến đâu, chỉ cần có tiếng cười, giọng nói của Phương thì không khí luôn vui nhộn.

Cuộc đời thường không dễ bình lặng mãi. Tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm, Phương ra trường trước chúng tôi, về dạy tại quê nhà. Chỉ mới có vài tháng, tôi nhận được email của Phương. Phương nói với tôi, có lẽ mình phải tạm thời phải xa nhau một thời gian. Tôi cũng chưa kịp hiểu ra được điều gì, rồi lại nghe nói, ba mẹ Phương muốn con mình đến với một người khá giả, giàu có: Luân, một chàng trai bảnh bao, vừa mới tốt nghiệp ngành Quản trị Kinh doanh, thừa hưởng một tương lai tươi sáng từ gia đình. Chuyện này đã được sắp đặt từ lâu, khi Phương còn đang học năm thứ nhất. Những lần về thăm nhà, là những lần Phương phải đấu tranh với những định kiến của gia đình, chính vì vậy, mà có những dịp nghỉ lễ, Phương vẫn không muốn về nhà. Lúc đó, tôi cũng không biết lý do, chỉ nghĩ rằng bạn đang thiếu “vitamin T”, nên không thể về nhà thôi. Sau này, tôi mới biết, Phương cũng đã giằng co dữ dội giữa chữ hiếu và niềm tin nơi Chúa. Có lẽ tôi cũng không thể hiểu hết được nổi khổ của bạn, bởi mình chưa từng trải qua những giây phút ấy, nhưng tôi biết, đó là những phút giây khó khăn trong cuộc đời. Tôi cùng mấy anh chị em cùng cầu nguyện cho bạn, Mục sư quản nhiệm cũng nêu vấn đề nhờ Hội Thánh cầu thay. Chuyện của Phương, đã trở thành một mối quan tâm của mọi người trong một thời gian dài, bởi ở đây, ai cũng mến bạn…

Ngọn đồi không cao lắm nhưng cũng đủ để nhìn quanh được xóm làng, những ngôi nhà, con đường nhỏ bé xung quanh. Ngày xưa, những lúc rảnh rỗi, tôi và ba thường lên đây ngồi chơi vào mỗi chiều. Cả cái thế giới thân thương, quen thuộc ấy, đều nằm trong một vòng tay, tự nhiên tôi thấy mình hạnh phúc quá, bởi được thấy, được nghe những thanh âm của cuộc sống trôi qua một cách nhẹ nhàng từ một góc nhìn trên cao.

Lần đầu tiên ba dạy tôi cầu nguyện cũng trên ngọn đồi này. Dì Bốn, người mà tôi yêu mến nhất đã đi xa. Hồi đó tôi còn nhỏ, mới có mấy tuổi đầu, cũng không hình dung được mọi việc, chỉ thấy rất buồn khi dì không còn ở với ngoại, với chúng tôi. Ba dắt tôi lên đồi, ngồi kể cho tôi nghe những câu chuyện về dì với gia đình tôi, những câu chuyện luôn có tôi và dì. Dì rất thương má tôi, nên luôn xem tôi như con, chính vì vậy, dì như là người mẹ thứ hai của tôi. Ba nói, dì đi xa, nếu con thương dì, nhớ dì, khóc là chuyện bình thường, bởi ai cũng nhớ người thân cả. Nhưng điều quan trọng hơn là phải sống cho xứng đáng với những gì người đó trông mong vào mình. Dì Bốn thương con, muốn con trở thành người con ngoan, học giỏi, yêu mến Chúa. Nếu con thương dì, con phải cố gắng để được như vậy. Nghe ba nói, tôi thấy bớt buồn, lòng thanh thản hơn, tôi lại càng thương dì, càng phải cố gắng nhiều. Ba dặn, nếu nhớ thương ai, hãy cầu nguyện cho người ấy, những lời cầu nguyện chân thành sẽ được Chúa lắng nghe và đáp ứng. Tình cảm cũng ngày càng bền chặc qua những lời cầu thay như vậy.

Những câu chuyện ngày xưa ấy như một chiếc cầu nối giữa tôi và mảnh đất nghèo nơi quê nhà. Ngày nay, ba má tôi đã đi xa, mấy chị em chúng tôi đều cố gắng học hành, bước trên con đường mà ba má tôi hằng mơ ước, có được cái chữ, để thêm hiểu biết, để sống đúng đạo lý làm người, để trở nên một người con Chúa hữu ích. Sau này, hễ có những tâm sự gì, tôi thường lên đây để cầu nguyện cùng Chúa. Tôi thích nơi này, vì tôi biết ba tôi cũng hay lên đây để cầu nguyện, ông thích cái không gian mênh mông giữa đất trời này, và bây giờ, cái ý thích đó lại nhiễm vào con người tôi.

Và rồi, tôi lại nhớ đến Phương, tiếp nối những tháng ngày, dâng lời cầu nguyện, xin Chúa mở đường cho bạn, chỉ cho bạn một lối thoát giữa những thử thách của cuộc sống. Sáng hôm nay, Gắng – một người bạn đã  gọi điện thoại cho tôi, Phương đã có quyết định dứt khoát, không chấp nhận cuộc hôn nhân đó. Bạn đã vào miền Nam. Tôi hỏi Gắng, bạn có biết Phương ở đâu không. Gắng nói, Phương chưa ổn định, nhưng chắc chắn là bạn sẽ sinh hoạt ở một Hội Thánh nào đó, và sẽ sớm hòa đồng với các bạn trẻ cùng lứa.

Âu đó cũng là một cách giải quyết để Phương có thể thoát khỏi những gì đang bị ức chế. Tôi cũng không biết đó có phải là phương án tối ưu nhất của bạn hay không, nhưng tôi tin Đức Chúa Trời có chương trình riêng cho mỗi người con Chúa, nếu chúng ta hết lòng trông cậy vào Ngài, và Phương là một người như vậy. Bây giờ, tự nhiên tôi thấy thương cho bạn. Mới ra trường, đã phải lao vào cuộc đời biết bao gian khó mà không có sự hỗ trợ của gia đình. Nhưng tôi cũng biết chắc rằng, khi chúng ta có Chúa, chúng ta sẽ có tất cả. Với lòng yêu mến Chúa sốt sắng của Phương, với sự năng nổ, dễ hòa đồng của bạn, rồi cũng không bao lâu, bạn sẽ có thêm nhiều bạn bè, nhất là những người bạn trong Chúa.

Nắng đã chiếu khắp ngọn đồi, như một dấu hiệu của sự vui mừng lan tỏa khắp nơi. Ờ nhỉ, sao lại không vui mừng chứ vì chúng ta có được một Cha trên trời, luôn yêu thương và sẵn sàng lắng nghe mọi lời cầu xin của con dân Ngài trên đất. Thời gian rồi cũng sẽ qua, tất cả những thử thách đến rồi cũng sẽ đi, nhưng điều quan trọng là chúng ta đối diện với nó như thế nào, bình thản, nhẹ nhàng trong sự trông cậy Chúa, ấy chính là một thái độ chân chính nhất của một người con Chúa, để luôn được ở trong Ngài, hưởng sự bình an, vui mừng trọn vẹn.

Vũ Hướng Dương

NGỌN NẾN ĐÊM GIÁNG SINH



NGỌN NẾN ĐÊM GIÁNG SINH

Tiếng lũ chiên kêu khiến ngọn nến giật mình, ai đó đã thắp nó lên và để quên nó tại một góc nhà. Phía đầu kia có mấy người khách trọ, họ mới đến vào lúc chiều tối, khi cả cái thị trấn này không còn chỗ trú ngụ nữa. Không gian chật chội của cái chuồng chiên bây giờ lại thêm nhỏ bé, tuy nhiên, sự có mặt của họ cũng làm cho đêm nay không khí thật vui.

Đêm xuống rất nhanh. Cái lạnh bủa vây khắp nơi. Thường ngày chẳng một ai thèm bước chân tới đây, vậy mà hôm nay có tới những ba người khách, một nam, một nữ và một chú bé nhỏ xíu, vừa mới ra đời. Ngọn nến đứng gần họ, thỉnh thoảng, theo từng cơn gió nhẹ, nó lại quét chùm ánh sáng vàng yếu ớt của mình lên từng khuôn mặt họ, người chồng, người vợ và cậu bé dễ thương kia. Nó nhìn thấy rất rõ, đó người đàn ông hiền lành, chắc sống ở một vùng thôn quê, làm nghề lao động chân tay thì phải. Lúc thì ông lo chăm sóc cho vợ, lúc thì quan tâm, nâng niu cậu bé, đủ biết ông ta yêu thương họ như thế nào. Người vợ là một phụ nữ khá đẹp, tóc đen mượt, đôi mắt to luôn hướng về cậu bé như muốn nhìn rõ khuôn mặt bầu bĩnh, dễ thương của đứa con trai mình.

Có lẽ đã lâu lắm rồi, nó mới thấy một gia đình hạnh phúc như vậy, cứ theo như cách nhìn của mỗi người thì cũng đủ hiểu, hình như những gì chung quanh không hề ảnh hưởng đến niềm  vui của họ. Họ vui vì đã tìm được một nơi ngủ nghỉ qua đêm, cho dù nó khá tồi tàn. Họ vui vì đã có một em bé chào đời, dù rằng chỉ nằm trong chiếc máng chiên, bọc bằng tấm khăn cũ kỹ. Họ vui vì Tình yêu luôn nối kết họ với nhau, ban cho họ sự bình an trong tâm lòng cho dù đang ở một nơi tồi tàn và lạnh lẽo như thế này.

Ngọn nến cảm nhận được cái thông điệp tình yêu từ gia đình ấy, một tình yêu diệu kỳ, có lẽ không phải đến từ những con người bình thường. Nó cứ lúc lắc những luồng sáng yếu ớt của mình trên khuôn mặt mỗi người như muốn nói, xin chúc mừng gia đình của các bạn, một gia đình phước hạnh. Rồi nó cũng cảm thấy có điều gì đó thôi thúc trong nó, thật khó tả. Nó cảm thấy cuộc sống thật có ý nghĩa khi có tình yêu ngự trị, dẫu biết bao khó khăn chất chồng, lòng người vẫn luôn bình an trong bến đỗ yêu thương ấy, vẫn luôn có niềm tin, niềm hy vọng vào một ngày mai tươi sáng dẫu rằng hôm nay đầy  giông bão.

Người chồng đến khêu lại tim đèn cho nó để nó được sáng hơn, ông cẩn thận che chắn ngọn nến để những cơn gió lùa không còn có thể tắt nó giữa chừng. Người vợ thì hết nhìn đứa con, rồi lại nhìn người chồng, cái ánh mắt trìu mến như trao cả tình yêu thương cho họ, cái tình yêu được đến từ lòng yêu kính Chúa. Cậu bé thì cứ nhìn nó cười, vâng, cái nụ cười thật dễ thương và thân thiện giống như đối với một người đã quen biết từ lâu…

Rồi ngọn nến nghe họ cầu nguyện, những lời cầu nguyện chân thành gởi đến Thiên Chúa để cảm tạ Ngài vì sự bình an mà Ngài đã ban cho họ, về sự giáng sinh của một Hài Nhi, mà như lời Thiên sứ, là “Đấng Cứu thế, là Christ, là Chúa”, là biểu tượng tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho nhân loại.

Ngoài kia, rộn lên những bước chân của mấy gã mục đồng đang chạy tới. Trong chốc lát, ánh sáng của ngọn nến yếu dần, nhưng nó không mất hẳn đi. Những tia sáng cuối cùng của nó vẫn còn quyến luyến với khung cảnh nơi đây, soi vào đôi mắt lóng lánh của đứa trẻ mới chào đời, của đôi vợ chồng trẻ đang ngồi cạnh nhau bên máng chiên, nó bay vút lên không trung, mang theo một thông điệp mới cho mọi người, thông điệp của Tình Yêu, rồi hòa mình vào ánh sáng một vì sao đang rực sáng ở góc trời, vì sao ấy đang dẫn lối cho ba nhà thông thái từ đông phương đang tìm đường đến đây…

Vũ Hướng Dương

ĐỂ LÀM GÌ?

ĐỂ LÀM GÌ?
Ngày 28/08/2015
Vũ Hướng Dương


Tình cờ, tôi đọc được một câu chuyện khá thú vị trên mạng internet:
BẠN SẼ CHẶT CÂY NÀO?
Thầy hỏi: “Nếu các trò lên núi chặt cây, vừa vặn trước mắt có hai gốc cây, một gốc cây to, một gốc cây nhỏ, các em sẽ chặt gốc nào?”
Câu hỏi vừa ra, tất cả học sinh đều nói: “Tất nhiên là chặt gốc cây to rồi.”
Thầy cười cười, nói: “Gốc cây to kia chỉ là một gốc bạch dương bình thường, mà gốc cây nhỏ kia lại là một cây thông, bây giờ các em sẽ chặt cây nào?”
Chúng tôi nghĩ, cây thông tương đối trân quý, nên trả lời: “Tất nhiên sẽ chặt cây thông, bạch dương không được bao nhiêu tiền!”
Thầy mang theo nụ cười không đổi nhìn chúng tôi, hỏi: “Nếu gốc cây dương là thẳng tắp, mà cây thông lại uốn éo xiêu vẹo, các em sẽ chặt cây nào?”
Chúng tôi cảm thấy có chút nghi hoặc, liền nói: “Nếu là như vậy, hay là vẫn chặt cây dương. Cây thông cong queo ngoằn ngoèo, làm gì cũng không làm được!”
Ánh mắt thầy lóe lên, chúng tôi đoán là thầy sẽ thêm điều kiện nữa, quả nhiên, thầy nói: “Cây dương tuy thẳng tắp, nhưng bởi đã lâu năm, nên phần giữa mục rỗng, lúc này, các em sẽ chặt gốc nào?”
Tuy không hiểu nổi trong hồ lô của thầy bán thuốc gì, chúng tôi vẫn từ điều kiện của thầy mà suy nghĩ, nói: “Thế thì lại chặt cây thông, cây dương ở giữa đã mục rỗng, càng không thể dùng!”
Sau đó thầy liền hỏi: “Thế nhưng dù cây thông ở giữa không mục rỗng, nhưng nó cong queo quá ghê gớm, bắt đầu chặt rất khó khăn, các em sẽ chặt gốc nào?”
Chúng tôi dứt khoát không suy nghĩ kết luận của thầy là gì nữa, liền nói: “Vậy chặt cây dương. Đều không thể dùng như nhau, đương nhiên chọn cây dễ chặt!”
Thầy không để chúng tôi thở, hỏi: “Thế nhưng trên cây dương có một tổ chim, mấy con chim non đang ở trong ổ, các em sẽ chặt gốc nào?”
Cuối cùng, có người hỏi: “Thầy ơi! Rốt cuộc thầy muốn nói gì cho chúng em vậy? Hỏi những thứ đó làm gì vậy thầy?”
Thầy thu hồi nụ cười, nói: “Các em vì sao không tự hỏi mình, rốt cuộc là chặt cây để làm gì? Tuy điều kiện của thầy thay đổi, nhưng yếu tố cuối cùng quyết định kết quả là động cơ ban đầu của các em. Nếu muốn lấy củi, các em liền chặt cây dương; muốn làm hàng mỹ nghệ, liền chặt cây thông. Các em tất nhiên sẽ không vô duyên vô cớ cầm theo búa lên núi chặt cây chứ?!”
Một người, chỉ khi trong nội tâm đã có mục tiêu từ trước, thì lúc làm việc mới không bị đủ loại điều kiện và hiện tượng bên ngoài mê hoặc. Mục tiêu của bạn đã rõ ràng chưa? Tư tưởng thông suốt, mới có thể kiên trì.
Câu chuyện đem đến cho chúng ta nhiều vấn đề phải suy nghĩ. Trong cuộc sống, có những việc chúng ta làm mà chẳng biết mình làm việc đó để làm gì. Quí vị có bao giờ lâm vào tình cảnh này chưa? Có lẽ không thừa, nếu mỗi người chúng ta cẩn thận trước khi làm việc của mình, cần phải biết động cơ chính đáng, để khỏi bị ảnh hưởng bởi những điều kiện khách quan bên ngoài.
Cơ Đốc nhân càng phải cẩn thận hơn nữa. Chúng ta cần phải biết một cách rõ ràng¸ những việc mình làm có ý nghĩa như thế nào đối với bản thân, đem lại lợi ích cho ai, có làm vinh hiển Danh Chúa không?
Kinh Thánh chép: Mọi sự đều có phép làm, nhưng chẳng phải mọi sự đều có ích; mọi sự đều có phép làm, nhưng chẳng phải mọi sự đều làm gương tốt. (I Côr 10: 23).
Trước khi làm một việc, hãy tự hỏi: chúng ta làm nó để làm gì?
VŨ HƯỚNG DƯƠNG

SỰ VÔ CẢM

SỰ VÔ CẢM
Ngày 19/08/2015
Vũ Hướng Dương


Một tờ báo tại Trung Quốc đăng một bản tin, tóm tắt nội dung như sau:
Một người tài xế họ Zhang khi lái xe thăm nhà mẹ đẻ ở huyện Nanling, thành phố Wuhu, tỉnh An Huy, Trung Quốc đã nhìn thấy người phụ nữ lớn tuổi bị thương nặng đang nằm bên lề đường. Nhưng anh không hề dừng lại để cứu mà vẫn thản nhiên tiếp tục lên đường.
Sau khi đến nơi, những người hàng xóm mới nói với Zhang rằng mẹ anh cũng vừa đi thăm anh. Linh cảm có chuyện không hay, Zhang lập tức quay xe lại.
Anh đi ngang qua người phụ nữ đang nằm trong vũng máu trên đường, và nhận ra rằng, bà chính là mẹ mình. Bà lão đã gặp tai nạn giao thông. Zhang nhanh chóng gọi xe cấp cứu để đưa mẹ tới bệnh viện nhưng bà đã qua đời trên đường đi. Cảnh sát sau đó đã tìm thấy tài xế đâm phải người phụ nữ và bỏ chạy khỏi hiện trường.
Ngày nay, hình như con người càng ngày càng vô cảm trước những tình cảnh đáng thương của đồng loại. Mỗi năm, có hàng triệu người chết đói, trong khi đó, biết bao tấn thức ăn được đổ đi do thừa thải. Có biết bao người sống trong mức nghèo không thể nghèo hơn, bên cạnh những đồng loại mình đang hưởng thụ cảnh giàu sang phú quí.
Đó là sự vô cảm trước đồng loại.
Thật ra, thái độ vô cảm không phải bây giờ mới có. Nó đã len lỏi vào tư duy của loài người từ khi họ xa cách Chúa. Chỉ vì Đức Chúa Trời không nhận của lễ, Cain trút nỗi tức giận lên em mình, và đã giết Abên một cách không nương tay.
Lý do bào chữa cho sự vô cảm thì có nhiều, nhưng chung qui, cũng chỉ vì sợ ảnh hưởng đến những quyền lợi (vật chất) của riêng mình, bởi con người, khi không có Chúa, luôn xem vật chất là quí báu nhất đối với họ.
Chỉ có một giai pháp duy nhất để con người không còn vô cảm, đó là nhận biết được giá trị của linh hồn mình, sự hay hư nát của những giá trị vật chất. Với những người không có Chúa, giá trị vật chất đè nặng tâm linh con người: “…song sự lo lắng về đời nầy, sự mê đắm về giàu sang, và các sự tham muốn khác thấu vào lòng họ, làm cho nghẹt ngòi đạo, và trở nên không trái.” (Phúc Âm Mác 4:19).
Xã hội càng hiện đại, con người càng bị những vật chất bao phủ và che mờ đi những mối liên hệ tình cảm mật thiết. Mỗi khi giải quyết một vấn đề, họ phải cẩn thận xem xét, liệu việc này có ảnh hưởng đến thời gian, tiền bạc, địa vị… của mình không? Họ quí trọng vật chất, luôn sợ bị lạc hậu, bị thiệt thòi đi, khi thiếu có nó, mà không biết rằng, Lời Kinh Thánh đã ghi: “Hãy giữ lối sống không ham tiền, và thỏa lòng với những gì mình hiện có. Vì Ngài đã phán: “Ta sẽ không bao giờ lìa ngươi, và chẳng bao giờ bỏ ngươi”.” (Hêbơrơ 13:5)
Chúa luôn ở cùng chúng ta.
VŨ HƯỚNG DƯƠNG

TRỞ VỀ CỘI NGUỒN

TRỞ VỀ CỘI NGUỒN
Ngày 03/08/2015
Vũ Hướng Dương


Ở nhà một người bạn tôi, có một bức thư pháp mà anh ấy rất thích: “Khi tóc bạc trên đầu trôi đi mãi, Cội nguồn ơi chiếc lá lại rơi về”.
Ờ nhỉ, con người ta dù sống ở đâu, đi đâu, như thế nào, rồi cuối cùng cũng có một ngày mong muốn trở về với cội nguồn của mình. Người chị tôi, thời thanh xuân đã từng sống nhiều nơi. Lúc về già sống tại một thành phố lớn, gia đình ổn định. Những năm gần đây, hay trở về quê nhà để lo việc chăm sóc mồ mả ông bà, tổ tiên, lo thăm viếng những người họ hàng thân thuộc mà bao nhiêu năm nay chị không một lần ghé đến.
Người Việt Nam ta có câu: “Lá rụng về cội”. Nó một qui luật của tự nhiên bao đời. Chiếc lá, cuối cùng cũng rụng xuống để trở về với gốc rễ của mình. Hình ảnh ấy giống như tâm trạng của một người đã bước sang bên kia đỉnh dốc cuộc đời, luôn có tâm lòng hướng về quê hương của mình.
Hướng về cội nguồ, là một bản năng tự nhiên của con người mà Thượng đế ban tặng cho họ. Thỉnh thoảng trên các mặt báo, chúng ta cũng thấy một vài hồi ký về một thời xa vắng của những người mang nặng tình yêu quê hương, họ nhớ lại từng tiếng mẹ ru trên chiếc võng đưa kèo kẹt, nhớ lại những ngày mưa gió cả nhà cùng sum vầy bên bếp lửa…
Một người xa quê như tôi, có một tuổi thơ chập chờn cùng với khói lửa chiến tranh, vậy mà cũng có những lúc nhớ về ngôi nhà trong khu vườn cũ của mình ở một góc đường thành phố, rồi những tiếng rao hàng của một bà bán bánh mì người Huế, trên vai là hai cái tủ nhỏ đựng bánh... những hình ảnh ấy không thể nào quên. Rồi những chiều ngồi bên hiên ngôi nhà thờ Dòng Chúa Cứu thế, hóng những làn gió mát rượi từ cánh đồng thổi lên, hồi đó, phố phường vẫn chưa nhiều nhà như hiện nay. Những ngày cắm trại phía sau sân nhà, tối về cùng nhau đóng kịch, tự bồi dưỡng bằng những ly nước é… Có những khi, tự nhiên bỗng nhớ lại ngày xưa, những hình ảnh ấy lại tràn về, tôi chợt nhận ra những bóng dáng ngày xưa ấy như vẫn còn lãng vãng đâu đây. Con người không thể sống thiếu quá khứ, không thể quên được cội nguồn.
Thi thiên 144:4 “Loài người giống như hơi thở. Đời người như bóng bay qua”. Thật là ngắn ngủi.
Truyền đạo 12: 6-7 “Lại hãy tưởng nhớ Đấng Tạo hóa trước khi dây bạc đất, và chén vàng bể, trước khi vò vỡ ra bên suối, và bánh xe gãy ra trên giếng; và bụi tro trở vào đất y như nguyên cũ, và thần linh trở về nơi Đức Chúa Trời, là Đấng đã ban nó.”.
Vâng, trở về cội nguồn chính là trở về cùng Đấng Tạo hóa, chính là Đức Chúa Trời, Đấng đã tạo dựng nên vạn vật vũ trụ này, trong đó có chính con người chúng ta.
Hãy làm điều này ngay bây giờ, khi còn có cơ hội, khi còn có thời gian, đừng để quá trễ.
VŨ HƯỚNG DƯƠNG

ĐỒNG HỒ CHẠY SAI

ĐỒNG HỒ CHẠY SAI
Ngày 13/07/2015
Vũ Hướng Dương


    Một chiếc đồng hồ chạy sai, đem đến biết bao phiền phức cho mọi người. Nhìn đồng hồ, tưởng chưa đến giờ đi làm, hóa ra đã trễ cả 15 phút rồi. Hẹn với một người bạn, thấy còn sớm, cứ tà tà nhâm nhi ly cà phê. Khi đến giờ, hóa ra đã bắt người ta chờ cả nữa tiếng.
Đời sống một người con Chúa bị lệch lạc về tâm linh cũng giống như chiếc đồng hồ chỉ sai giờ. Nhiều người quan niệm, theo Chúa chỉ cần đi nhà thờ là đủ. Trong giờ nhóm, thay vì ngồi lắng nghe lời Chúa, thì họ thì thầm trò chuyện về người này, người khác, làm bạn cùng điện thoại qua những tin nhắn (chứ không phải là Thánh Ca hoặc Kinh Thánh). Nếu họ có lắng nghe bài giảng của Tôi tớ Chúa, thì cũng để chú ý ông có phát âm sai chỗ nào, nhầm lẫn điều gì, hoặc chỉ trích đến ai… Hội đồng bầu cử Chấp sự, Hội đồng lưu mời Quản nhiệm thì họ đi vận động bỏ phiếu cho người này, người kia, mà không để cho Thánh Linh Chúa tự do hành động trong lòng mỗi người. Họ luôn nghĩ họ là chuẩn mực, tuy nhiên, những chuẩn mực của họ lại không trùng với chuẩn mực của Chúa Giêxu. Mục đích đời sống tâm linh của họ đã bị lệch lạc.
Một người nói với tôi, không vào hang cọp thì sao bắt được cọp, khi tôi nói với ông ta về chuyện không nên đãi bia trong tiệc cưới. Nhiều người quan niệm, sống với thế gian cho nên phải gần gũi họ, họ thế nào, thì mình thế ấy, có như vậy mới làm chứng về Chúa cho họ được (?).
Điều đặc biệt, những người này lại là tín hữu lâu năm, là chấp sự nhiều nhiệm kỳ. Cứ mỗi lần tiệc cưới, là họ uống vô tội vạ, cũng lắc ly, cũng cụng, hô 50, 100 phần trăm… không khác gì người ngoại giáo. Họ quan niệm đã uống thì uống cho hết mình và vì bia không bỏ tiền ra nên tha hồ mà uống. Một đời sống như vậy thì làm sao giống chiếc đồng hồ chạy đúng giờ được.
Một chiếc đồng hồ chạy sai, thường là pin yếu. Chính vì vậy, biện pháp hữu hiệu nhất là lấy pin cũ ra, thay pin mới vào. Có như vậy, chắc chắn nó sẽ chỉ đúng giờ, trở lại với chức năng ban đầu của nó: chỉ đúng giờ.
Một người con Chúa có đời sống bị lệch lạc cũng như vậy, cần phải thay đổi. Phải dứt bỏ đời sống sai lạc trước đây, nạp nguồn năng lượng thuộc linh mới mẻ từ Chúa ban cho. Khi đó, họ sẽ có một đời sống chuẩn mực, hiểu biết, và đem lại nhiều lợi ích cho nhà Chúa: đó chính là “chức năng” của một người con Chúa đúng nghĩa.
Dĩ nhiên, quá trình này đòi hỏi phải có sự nổ lực của bản thân. Phải nhận biết được mình là chiếc đồng hồ đang chỉ sai giờ, thấy được tác hại của đời sống lệch lạc của mình: không chỉ ảnh hưởng đến bản thân mà còn làm những người khác bị chao đảo, có nhận định sai lầm về đạo của Chúa. Người đó cần phải có sự ăn năn thật sự với Chúa, cần được Chúa thay đổi tấm lòng và cũng cần học hỏi lời Chúa để ngày càng thêm hiểu biết, sâu nhiệm lời Ngài.
Có như vậy, đời sống họ ngày càng chuẩn mực, chiếc đồng hồ chạy sai ngày nào, đem lại biết bao phiền phức cho mọi người sẽ trở nên một vật dụng tin cậy, đáng trân trọng. Đó cũng chính là giá trị của một người con Chúa.
“Vậy, nếu ai ở trong Đấng Christ, thì nấy là người dựng nên mới; những sự cũ đã qua đi, nầy mọi sự đều trở nên mới.”(II Côr 5:17)
VŨ HƯỚNG DƯƠNG

CẦU NGUYỆN

CẦU NGUYỆN
Ngày 16/04/2015
Vũ Hướng Dương


Đang ngồi nhóm, nghe lời cầu nguyện, tôi giật mình. Hóa ra người giảng nói một đường, người “cầu nguyện đáp ứng lời Chúa” lại nói một nẻo, tội cho diễn giả, và tội cho Chúa, thông điệp của Ngài không được đáp ứng.
Mà người cầu nguyện đâu phải là tín hữu bình thường, ông ta trước đây cũng là một Chấp sự nổi tiếng của Hội Thánh, bây giờ đã nghỉ, nhưng vẫn được mọi người kính trọng và tin tưởng bởi sự hoạt bát, nhanh nhẹn và nhiệt tình của ông trong công việc Chúa. Hôm nay, được mời cầu nguyện sau bài giảng, tôi biết ông đã chuẩn bị khá kỹ càng, veston, ngồi hàng ghế đầu, và rất nghiêm túc trong giờ nhóm. Vậy mà khi ông cầu nguyện, tôi cảm nhận giống như một bài chuẩn bị sẵn từ trước, không ăn nhập gì với những gì mục sư diễn giả chia sẻ…
Tự nhiên tôi nhớ đến thành ngữ “chuyên gia cầu nguyện” mà mọi người hay nói đùa nhau. Có nhiều Hội Thánh, hình như không tin tưởng tín hữu, sợ họ không biết cầu nguyện(?) sao, mà luôn bố trí trong chương trình, chỉ những chấp sự, nhân sự mới được cầu nguyện. Những người này thường cầu nguyện rất hay, rất suông sẻ, bởi họ là những người quá quen cầu nguyện trước đám đông.
Ai cũng biết cầu nguyện là hơi thở thuộc linh. Khi chúng ta cầu nguyện, tức là đang trò chuyện, tâm sự cùng Chúa. Và chắc ai cũng đồng ý rằng, Chúa không cần chúng ta dùng những lời văn hoa mỹ để thưa với Ngài, Ngài cũng không cần chúng ta trích dẫn Kinh Thánh quá nhiều trong lời cầu nguyện, cũng không cần nói nhiều… Chúa cần chúng ta thật lòng trong lời cầu nguyện, không dài dòng, không lạc đề.
Nhiều tín hữu không dám cầu nguyện trước đám đông, vì cho rằng mình cầu nguyện “không hay” bằng những người khác. Chúa đâu có chấm điểm cho lời cầu nguyện của chúng ta. Ngài lắng nghe và đáp ứng, nếu đó là lời cầu nguyện chân thành, xuất phát tự đáy lòng. Chính vì vậy, những lời cầu nguyện bóng bẩy, thêm thắt, trích dẫn rất nhiều câu Kinh Thánh…  không phải là lời cầu nguyện Chúa mong đợi. Chúa cũng không thích những lời cầu nguyện mông lung, cầu nguyện dâng tiền mà lại giống như cầu nguyện khai lễ một chương trình thờ phượng, cầu nguyện đáp lời Chúa trong bài giảng lại không theo ý bài giảng một chút nào, ví dụ ở trên là một trường hợp cụ thể.
Một vài câu Kinh Thánh để chúng ta tham khảo:
·        Khi các ngươi cầu nguyện, đừng làm như bọn giả hình; vì họ ưa đứng cầu nguyện nơi nhà hội và góc đường, để cho thiên hạ đều thấy. Quả thật ta nói cùng các ngươi, bọn đó đã được phần thưởng của mình rồi. (Ma-thi-ơ 6:5)
·        Song khi ngươi cầu nguyện, hãy vào phòng riêng, đóng cửa lại, rồi cầu nguyện Cha ngươi, ở nơi kín nhiệm đó; và Cha ngươi, là Đấng thấy trong chỗ kín nhiệm, sẽ thưởng cho ngươi. (Ma-thi-ơ 6:6)
·        Vả, khi các ngươi cầu nguyện, đừng dùng những lời lặp vô ích như người ngoại; vì họ tưởng vì cớ lời mình nói nhiều thì được nhậm. (Ma-thi-ơ 6:7)
·        Trong khi cầu nguyện, các ngươi lấy đức tin xin việc gì bất kỳ, thảy đều được cả. (Ma-thi-ơ 21:22)
·        Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi làm bộ đọc lời cầu nguyện cho dài mà nuốt nhà đàn bà góa; vì cớ đó, các ngươi sẽ bị đoán phạt nặng hơn. (Ma-thi-ơ 23:14)
Có lẽ không cần nói nhiều nữa, quí vị cũng biết, cầu nguyện với Chúa như thế nào, và Ngài trông đợi gì trong lời cầu nguyện của chúng ta.
VŨ HƯỚNG DƯƠNG

TÌNH MIỀN TÂY

TÌNH MIỀN TÂY
Ngày 25/11/2014
 Vũ Hướng Dương


Trong lòng tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình có thể đến được miền tây, và cái cảm giác hưng phấn cho đến bây giờ vẫn còn ở trong con người tôi. Dĩ nhiên, cũng sẽ có người nói rằng, ơ, miền tây thì có gì, tôi đi hoài, cả trăm lần. Vâng, nhưng đối với một kẻ “quê mùa” như tôi, thì dĩ nhiên cái lần đầu tiên này rất quan trọng, bởi những cảm xúc vô cùng chân thực và nó khiến tôi không thể nào quên, nhất là cái “Tình miền tây”
Sau khi xuống chuyến xe từ Vĩnh Long đi Sóc Trăng, anh Út Lý đón tôi tại đầu cầu Hưng Lợi. Từ đây xuống nhà anh, An Thới Tây, cũng mấy chục cây số. Tôi, vừa háo hức, vừa lạ lẫm với những cảnh vật miền tây nên cứ hết nhìn bên này, nhìn bên kia, nhìn mãi mà không thấy chán.
Nhà anh Út Lý ở dọc theo bờ sông, cách nhà thờ không xa lắm. Mới bước vào chào hỏi, chị Út Lý đã hỏi tôi:
-        Chú thứ mấy?
-        Dạ thứ tư.
Vậy là từ đó về sau, tôi được gọi là “chú tư”, thật gần gũi và thân mật, còn cái tên “ruột thịt” của tôi, nó đã biến đi đâu mất rồi.
Nhà của anh chị Út Lý khá rộng, hầu như cả ngày chỉ ở nhà dưới thôi, ít lên nhà trên. Thú thật, ở đây, lần đầu tiên tôi thấy con tắc kè, da trắng to hơn con chuột bò trên một góc nhà, nó trông cũng khá dạn dĩ. Vườn nhà anh chị trồng toàn nhãn, mà đang mùa nhãn nên chín khá nhiều.

Anh Út Lý trước cây me cổ thụ trong vườn nhãn


Sông nước miền tây, phía xa kia chỉ là cù lao giữa sông, còn bờ sông xa gấp hai ba lần nữa..
Anh Út Lý rủ tôi qua vườn chơi, một khu vườn khác nằm gần đường lộ, vừa để hái ít nhãn tặng cho các anh chị em Cựu Cô nhi Nha Trang. Khu vườn ở miền tây luôn có những hào đấy nước chung quanh, thật sự khác hẳn ở quê tôi. Vườn nhãn của anh Lý thật rộng, anh thì đi hái, còn tôi thì cứ… ăn thoải mái. Mới đầu thấy thì thèm, nhưng thật ra,, ăn đâu được bao nhiêu, những trái nhãn to tròn, ngọt lịm, thật là một món quà tặng quí báu mà Thiên Chúa dành cho vùng đất này. Tôi vẫn biết, đây không phải là khu vườn rộng nhất, nhưng với hàng trăm cây nhãn đang mùa ra hoa kết trái thì đối với kẻ “quê mùa” như tôi thật là vĩ đại rồi.
Buổi chiều, anh Út Lý định chở tôi lên Cần Thơ chơi, nhưng trời đổ mưa rất lớn nên tôi đành phải ngồi nhà, ngồi ngắm mưa. Cơn mưa rất lớn, và đi qua cũng nhanh, nhưng cũng đủ làm cho cả khu vườn ngập tràn cả nước. Ở đây, vẫn còn một vài nhà lợp bằng lá dừa nước, anh Út Lý nói lợp lá mát lắm, nhưng lợp thưa thì mau hư, còn lợp dày thì sợ chuột làm ổ, mà thật vậy, buổi sáng tôi mới tới, đã thấy một anh tí bò tỉnh bơ trên vách nhà…
Tối hôm đó, anh Út Lý rủ tôi đi nhóm tại nhà một tín hữu gần. Tình cờ, tôi gặp lại Trần Giám, một anh em thông tín viên tại Sóc Trăng. Chúng tôi lại cùng hàn huyên tâm sự về công việc. Anh Giám hồ hởi làm chứng cho tôi nghe về những người bị quỉ ám, được Chúa chữa lành qua lời cầu nguyện của Hội Thánh. Tôi bảo:
-        Vậy thì ông nên viết mấy bài làm chứng đi, hiện nay Bản tin Mục vụ có chuyên mục “Có một người như thế” rồi.
Anh Giám lại bảo:
-        Tôi viết cũng được nhưng mà không hay, anh viết mới hay(?).
Vậy là tự nhiên tôi lại mắc nợ với nơi này, xin hẹn một ngày trở lại, và biết đâu đó cũng là cái cớ để tôi có thể gặp lại anh chị em trong Chúa nhiều hơn, học hỏi được nhiều điều quí báu hơn cho cuộc hành trình theo Chúa của mình.
Sáng hôm chia tay, anh chị Lý đi từ lúc 4g sáng vì phải đến dự lễ Tấn phong Mục sư tại Bến Tre, còn tôi thì 7g mới lên đường về lại thành phố. Tôi vẫn còn nhớ như in câu nói của anh chị trước khi lên đường:
-        Chú Tư ở nhà rồi đi sau nhé, cho gởi lời thăm gia đình.
Cái “chú Tư” ấy sao mà ngọt ngào, tình cảm đến vô cùng. Tự nhiên, không bà con, không họ hàng, chỉ có chút xíu dính dáng thôi: Cựu cô nhi Tin Lành Nha Trang, vậy mà tôi lại được trở nên một thành viên, gần như thật sự, của gia đình anh chị Út Lý. Cũng có thể, đối với những người ở đây, gọi nhau theo thứ tự trong gia đình là lẽ thường tình, nhưng dẫu sao, đối với bản thân tôi, đấy là cái tình cảm thắm thiết và chân chất nhất mà tôi từng gặp.
Những thì giờ cuối cùng ở Sóc Trăng, tôi ngồi uống cà phê cùng người con rễ của anh chị Út Lý. Chuyến xe Hoa Mai đến hơi trễ một chút, cũng không sao, tôi lại có thêm chút thời gian để nhìn ngắm Sóc Trăng, một mảnh đất màu mỡ miền tây mà lần đầu tiên tôi được đến. Ngẫm đi ngẫm lại, tôi chợt nhận ra thế giới này quá bao la, bao la không chỉ về mặt không gian nhưng bởi sự phong phú, đa hình đa dạng, mỗi nơi mỗi khác. Có đi mới biết, và dù có đi nhiều đến đâu thì cũng không thể hết được cái thế giới bao la này. Đúng là kiến thức hữu hạn.
Giã từ Sóc Trăng, con đường thênh thang những dòng sông, phố xá. Và trong lòng tôi cũng mênh mang một nổi nhớ, những tình cảm được sẻ chia tại một vùng quê thật ấm cúng. Cảm ơn Chúa và cảm ơn anh chị Út Lý, đã cho những tháng ngày tuyệt vời tại Sóc Trăng, miền tây đất nước, những tháng ngày không thể nào quên đối với một kẻ hay “lang thang” như tôi và tôi lại ước mong có ngày trở lại An Thới Tây, để được nhìn những dòng sông mênh mông đêm ngày rộn tiếng ghe thuyền qua lại, được dạo chơi trong những khu vườn cây trái xum xuê, và nhất là được gần những con người thật sự dễ thương, dễ mến…
VŨ HƯỚNG DƯƠNG

Thứ Sáu, 12 tháng 12, 2014

NẮNG CAO NGUYÊN
Ngày 11/11/2014
 Vũ Hướng Dương


           Tôi thật may mắn khi được đến Trạm Hành, thăm nhà chị Loan, là cựu cô nhi Tin Lành Nha Trang. Sau này tôi mới hiểu được ý nghĩa của hai chữ “Trạm Hành”, chứ ban đầu, tôi cứ nghĩ rằng nơi đây trồng rất nhiều hành.
Con đường từ Đà Lạt về Trạm Hành lắm đèo dốc, có chỗ bị hư trầm trọng, chắc là do xe chạy nhiều. Đường lạ, nhưng thật ra cũng không khó đi, tuy nhiên tôi không thể chạy nhanh vì chị Loan ngồi phía sau cứ la đau đầu một khi chiếc xe qua một ổ gà.


Nhà thờ Tin Lành Trạm Hành trong nắng sớm cao nguyên
Cuối cùng rồi chúng tôi cũng đến được Trạm Hành, còn kịp ghé nhà thờ chụp mấy tấm hình kỷ niệm trước khi về nhà trong đám sương mù chập chờn bay theo từng bước chân như mở hội đón tiếp tôi lần đầu tiên đến thăm xóm làng phố núi. Nhà chị Loan nằm trên sườn đồi, khá cao so với mặt đất, tôi đoán chừng khoảng 10m. Đường lên nhà khá vất vả, những bậc thang bằng đá cứ như đùa giỡn với tôi, vác ba lô trên vai tôi thầm nghĩ, nếu ở đây chỉ một thời gian ngắn, sức khỏe có thể được cải thiện rõ rệt. Nhà chị Loan không đẹp, nhưng nhìn xuống thung lũng phía dưới, có những con đường nhựa chạy uốn khúc trông nhưng mấy con lươn vừa được bắt lên từ nước, trông rất thơ mộng. Điều tôi thích nhất đó là được ngắm những ngôi nhà mái ngói nâu, tường màu xanh, vàng, hồng… rất đặc trưng của vùng cao nguyên, đó là những ngôi nhà trong mơ ước của chúng tôi…Ban đêm, trời khá lạnh, chúng tôi phải đóng kín các cửa để sương khỏi len vào nhà, vậy mà vẫn lạnh, cái lạnh khô khó chịu theo chúng tôi suốt đêm và cả những ngày hôm sau.

Con đường uốn lượn qua sườn đồi và những dãy nhà, nhìn từ trước sân nhà chị Loan
Sáng hôm sau, chúng tôi cùng đến nhóm tại nhà thờ Trạm Hành. Sau giờ cầu nguyện, tôi tranh thủ ra ngoài ngắm nhìn phong cảnh một tí. Gọi là ngắm, nhưng thực ra tôi cũng muốn thử xem cái không khí ở nơi cao này có gì khác biệt với dưới xuôi không? Trời nắng mà vẫn lạnh, gió nhiều, hơi khô nên rất khó chịu đối với những người từ đồng bằng lên như tôi. Tôi nhìn lên, bầu trời buổi sáng trong xanh, trong xanh theo đúng nghĩa chứ không phải chỉ là những từ mô tả một cách chung chung. Tôi chưa bao giờ thấy bầu trời đẹp như vậy, đứng ở nơi này, tôi mới cảm nhận được chiều sâu thăm thẳm của bầu trời, cái màu xanh thăm thẳm một cách khác thường, dìu dịu như đang mở chúng ta một cánh cửa nào từ trên cao để bước vào một thế giới khác, thế giới của những điều kỳ diệu. Biết vậy, cho nên tôi cố gắng cảm nhận hết những gì có được nơi đây, để rồi một mai xa nó, có thể lâu lắm mới có dịp trở lại, hoặc nếu trở lại, biết đâu vạn vật thay đổi, mà đôi khi cảm nhận cũng khác, cái gì đầu tiên cũng là quí giá nhất.
            Phía bên kia đồi, những ngôi nhà xinh đẹp với đủ sắc màu, nằm bên cạnh các con đường nhựa chạy ven theo sườn. Trông nó giống những ngôi nhà xếp bằng giấy đồ chơi, xa xa, có khi lại mang hình ảnh của thị trấn phương tây trên miền núi cao. Tôi chợt nghĩ đến cuộc sống của mình, biết bao giờ mới có được một ngôi nhà xinh xắn như vậy, có lẽ cũng chỉ là mơ ước thôi, ờ, mà đâu có ai đánh thuế ước mơ đâu, thôi thì cứ để như vậy cho cuộc sống thêm màu mộng mị một chút cũng vui vui…
            Tôi chợt nhớ đến mấy câu thơ của Vũ Hữu Định:

Phố núi cao phố núi đầy sương

Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
Anh khách lạ đi lên, đi xuống
May mà có em đời còn dễ thương 
2n
Em Pleiku má đỏ môi hồng

Ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
Nên tóc em ướt, và mắt em ướt
Nên em mềm như mây chiều trong

Phố núi cao, phố núi trời gần

Phố xá không xa nên phố tình thân
Đi dăm phút đã về chốn cũ
Một buổi chiều nào lòng bỗng bâng khuâng

Xin cảm ơn thành phố có em

Xin cảm ơn một mái tóc mềm
Mai xa lắc trên đồn biên giới
Còn một chút gì để nhớ, để quên
Tuy là nói về Pleiku, nhưng so với ở đây cũng không khác gì nhau. Phố xá ở đây cũng lên lên, xuống xuống, có nhiều chỗ, chạy xe không cần nổ máy vẫn đi được cả chục cây số, đổ dốc mà. Tôi thì không có một “Em Pleiku má đỏ môi hồng” nào cả, nhưng nhìn những người phụ nữ ở đây (dĩ nhiên là cả nam giới) đều mặc áo ấm cả, tôi thấy cũng khá thú vị.
Hội Thánh Trạm Hành ít thanh thiếu niên, có lẽ đa số đã đi học, đi làm dưới thành phố. Được vào nói chuyện, làm quen với MS Lưu Tự An, quản nhiệm Hội Thánh cũng khá thú vị. Ông bà rất hiền và nói chuyện khá cởi mở.
Tình cờ, tôi lại gặp gia đình cha mẹ vợ của MS NC Bùi Tấn Lực, và cũng chính nhờ ba của cô Vân, tôi mới biết Trạm Hành là tên gọi của một trạm nghỉ ngơi của những đoàn hành khách, vận chuyển hàng đi ngang qua. Phía dưới Trạm Hành vẫn còn dấu vết của con đường sắt từ Nha Trang lên Đà Lạt ngày xưa, người ta đã phục hồi được một đoạn từ Đà Lạt đến Trại Mát để phục vụ cho du lịch, trong thời gian đến chắc rồi cũng sẽ mở lại con đường xưa này để khai thác. Ông còn chỉ cho tôi thấy sườn núi bên kia, những ngày trước còn có cả đoàn voi kéo nhau về, vậy mà bây giờ đã là vườn, là nương rẫy hết cả rồi. Thời gian trôi thật là nhanh.


Ông bà Mục sư Lưu Tự An chụp hình lưu niệm cùng chị Loan, ông bà Thư ký Hội thánh (thân sinh cô Vân, vợ MSNC Bùi Tấn Lực)
Buổi trưa nắng, tôi cùng gia chủ uống cà phê dưới nắng ấm cao nguyên. Nắng mà không nóng, cái nắng nhè nhẹ trong gió khiến tôi liên tưởng đến những bộ phim nước ngoài, người ta ngồi ăn trưa dưới nắng một cách thoải mái, chắc là khí hậu cũng giống nơi đây. Anh con trai chủ nhà dẫn tôi ra vườn, hái mấy trái hồng chín cây, ăn như vậy mới ngon. Tôi nghe nói trên này, chỉ với ba ngàn đồng đã mua được một ký hồng, trong khi dưới xuôi, cái giá đó cũng gấp gần cả chục lần, đúng là một trời một vực. Thấy thì thèm, nhưng thật ra tôi ăn cũng chẳng được bao nhiêu trái. Gia chủ giới thiệu cho tôi về cà phê do ông tự chế biến. Ông hái từng trái cà phê chín chứ không tuốt cả nhánh như người ta thường làm, tự ông rang, xay, không thêm một hóa chất nào, chính vì vậy, cà phê của ông có mùi vị đặc trưng, cho dù nó không thơm như những loại cà phê khác, nhưng đây chính là cà phê sạch, cà phê nguyên chất nhất. Tiện tay, ông tặng tôi một bao ni lông cà phê thành phẩm, xem như là quà từ miền cao nguyên. Cho dù tôi là dân ít uống cà phê, nhưng tôi cũng rất thích, vậy là khi về nhà có thể nhâm nhi ly cà phê sạch, cho dù có thể cả tháng tôi mới uống hết…
Tôi chia tay gia chủ ra về. Nắng cao nguyên vẫn đổ vì đang buổi trưa. Chiều nay, tôi cùng chị Loan xuống Đơn Dương rồi chạy ngược lên Đà Lạt, tôi có hẹn với một số anh chị em tại nhà thờ Tin Lành Đà Lạt. Trên con đường dốc đổ về Đơn Dương, chiếc xe thả chạy bon bon. Tuy vậy tôi vẫn cảm nhận được cái lạnh theo đuổi tôi trong từng cơn gió. Phía dưới kia, đập nước Đa Nhim như một cái hồ khổng lồ, bên dưới nó, những ngôi nhà xinh xắn nằm sát nhau, thị trấn đẹp như một bức tranh vẽ, đúng là nhìn từ trên cao, cái gì cũng đẹp. Tôi chia tay phố núi cao với một chút tiếc nuối, mong rằng ngày gặp lại không xa, để có dịp bước lên những con dốc, được cảm nhận gió cao nguyên mát lạnh người và bước đi trong nắng cao nguyên. Biết đâu tôi lại gặp được một “Em Pleiku má đỏ môi hồng” thật sự nào đó, lúc đó, nắng cao nguyên chắc chắn sẽ đẹp hơn, sẽ nồng nàn hơn trên đôi má của người con gái cao nguyên, và trên mọi lối đường về cũng sẽ ấm áp hơn cho dù sương và gió núi vẫn phủ dày mỗi khi chiều xuống…
Tạm biệt.
VŨ HƯỚNG DƯƠNG