Thứ Sáu, 12 tháng 12, 2014

NẮNG CAO NGUYÊN
Ngày 11/11/2014
 Vũ Hướng Dương


           Tôi thật may mắn khi được đến Trạm Hành, thăm nhà chị Loan, là cựu cô nhi Tin Lành Nha Trang. Sau này tôi mới hiểu được ý nghĩa của hai chữ “Trạm Hành”, chứ ban đầu, tôi cứ nghĩ rằng nơi đây trồng rất nhiều hành.
Con đường từ Đà Lạt về Trạm Hành lắm đèo dốc, có chỗ bị hư trầm trọng, chắc là do xe chạy nhiều. Đường lạ, nhưng thật ra cũng không khó đi, tuy nhiên tôi không thể chạy nhanh vì chị Loan ngồi phía sau cứ la đau đầu một khi chiếc xe qua một ổ gà.


Nhà thờ Tin Lành Trạm Hành trong nắng sớm cao nguyên
Cuối cùng rồi chúng tôi cũng đến được Trạm Hành, còn kịp ghé nhà thờ chụp mấy tấm hình kỷ niệm trước khi về nhà trong đám sương mù chập chờn bay theo từng bước chân như mở hội đón tiếp tôi lần đầu tiên đến thăm xóm làng phố núi. Nhà chị Loan nằm trên sườn đồi, khá cao so với mặt đất, tôi đoán chừng khoảng 10m. Đường lên nhà khá vất vả, những bậc thang bằng đá cứ như đùa giỡn với tôi, vác ba lô trên vai tôi thầm nghĩ, nếu ở đây chỉ một thời gian ngắn, sức khỏe có thể được cải thiện rõ rệt. Nhà chị Loan không đẹp, nhưng nhìn xuống thung lũng phía dưới, có những con đường nhựa chạy uốn khúc trông nhưng mấy con lươn vừa được bắt lên từ nước, trông rất thơ mộng. Điều tôi thích nhất đó là được ngắm những ngôi nhà mái ngói nâu, tường màu xanh, vàng, hồng… rất đặc trưng của vùng cao nguyên, đó là những ngôi nhà trong mơ ước của chúng tôi…Ban đêm, trời khá lạnh, chúng tôi phải đóng kín các cửa để sương khỏi len vào nhà, vậy mà vẫn lạnh, cái lạnh khô khó chịu theo chúng tôi suốt đêm và cả những ngày hôm sau.

Con đường uốn lượn qua sườn đồi và những dãy nhà, nhìn từ trước sân nhà chị Loan
Sáng hôm sau, chúng tôi cùng đến nhóm tại nhà thờ Trạm Hành. Sau giờ cầu nguyện, tôi tranh thủ ra ngoài ngắm nhìn phong cảnh một tí. Gọi là ngắm, nhưng thực ra tôi cũng muốn thử xem cái không khí ở nơi cao này có gì khác biệt với dưới xuôi không? Trời nắng mà vẫn lạnh, gió nhiều, hơi khô nên rất khó chịu đối với những người từ đồng bằng lên như tôi. Tôi nhìn lên, bầu trời buổi sáng trong xanh, trong xanh theo đúng nghĩa chứ không phải chỉ là những từ mô tả một cách chung chung. Tôi chưa bao giờ thấy bầu trời đẹp như vậy, đứng ở nơi này, tôi mới cảm nhận được chiều sâu thăm thẳm của bầu trời, cái màu xanh thăm thẳm một cách khác thường, dìu dịu như đang mở chúng ta một cánh cửa nào từ trên cao để bước vào một thế giới khác, thế giới của những điều kỳ diệu. Biết vậy, cho nên tôi cố gắng cảm nhận hết những gì có được nơi đây, để rồi một mai xa nó, có thể lâu lắm mới có dịp trở lại, hoặc nếu trở lại, biết đâu vạn vật thay đổi, mà đôi khi cảm nhận cũng khác, cái gì đầu tiên cũng là quí giá nhất.
            Phía bên kia đồi, những ngôi nhà xinh đẹp với đủ sắc màu, nằm bên cạnh các con đường nhựa chạy ven theo sườn. Trông nó giống những ngôi nhà xếp bằng giấy đồ chơi, xa xa, có khi lại mang hình ảnh của thị trấn phương tây trên miền núi cao. Tôi chợt nghĩ đến cuộc sống của mình, biết bao giờ mới có được một ngôi nhà xinh xắn như vậy, có lẽ cũng chỉ là mơ ước thôi, ờ, mà đâu có ai đánh thuế ước mơ đâu, thôi thì cứ để như vậy cho cuộc sống thêm màu mộng mị một chút cũng vui vui…
            Tôi chợt nhớ đến mấy câu thơ của Vũ Hữu Định:

Phố núi cao phố núi đầy sương

Phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
Anh khách lạ đi lên, đi xuống
May mà có em đời còn dễ thương 
2n
Em Pleiku má đỏ môi hồng

Ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
Nên tóc em ướt, và mắt em ướt
Nên em mềm như mây chiều trong

Phố núi cao, phố núi trời gần

Phố xá không xa nên phố tình thân
Đi dăm phút đã về chốn cũ
Một buổi chiều nào lòng bỗng bâng khuâng

Xin cảm ơn thành phố có em

Xin cảm ơn một mái tóc mềm
Mai xa lắc trên đồn biên giới
Còn một chút gì để nhớ, để quên
Tuy là nói về Pleiku, nhưng so với ở đây cũng không khác gì nhau. Phố xá ở đây cũng lên lên, xuống xuống, có nhiều chỗ, chạy xe không cần nổ máy vẫn đi được cả chục cây số, đổ dốc mà. Tôi thì không có một “Em Pleiku má đỏ môi hồng” nào cả, nhưng nhìn những người phụ nữ ở đây (dĩ nhiên là cả nam giới) đều mặc áo ấm cả, tôi thấy cũng khá thú vị.
Hội Thánh Trạm Hành ít thanh thiếu niên, có lẽ đa số đã đi học, đi làm dưới thành phố. Được vào nói chuyện, làm quen với MS Lưu Tự An, quản nhiệm Hội Thánh cũng khá thú vị. Ông bà rất hiền và nói chuyện khá cởi mở.
Tình cờ, tôi lại gặp gia đình cha mẹ vợ của MS NC Bùi Tấn Lực, và cũng chính nhờ ba của cô Vân, tôi mới biết Trạm Hành là tên gọi của một trạm nghỉ ngơi của những đoàn hành khách, vận chuyển hàng đi ngang qua. Phía dưới Trạm Hành vẫn còn dấu vết của con đường sắt từ Nha Trang lên Đà Lạt ngày xưa, người ta đã phục hồi được một đoạn từ Đà Lạt đến Trại Mát để phục vụ cho du lịch, trong thời gian đến chắc rồi cũng sẽ mở lại con đường xưa này để khai thác. Ông còn chỉ cho tôi thấy sườn núi bên kia, những ngày trước còn có cả đoàn voi kéo nhau về, vậy mà bây giờ đã là vườn, là nương rẫy hết cả rồi. Thời gian trôi thật là nhanh.


Ông bà Mục sư Lưu Tự An chụp hình lưu niệm cùng chị Loan, ông bà Thư ký Hội thánh (thân sinh cô Vân, vợ MSNC Bùi Tấn Lực)
Buổi trưa nắng, tôi cùng gia chủ uống cà phê dưới nắng ấm cao nguyên. Nắng mà không nóng, cái nắng nhè nhẹ trong gió khiến tôi liên tưởng đến những bộ phim nước ngoài, người ta ngồi ăn trưa dưới nắng một cách thoải mái, chắc là khí hậu cũng giống nơi đây. Anh con trai chủ nhà dẫn tôi ra vườn, hái mấy trái hồng chín cây, ăn như vậy mới ngon. Tôi nghe nói trên này, chỉ với ba ngàn đồng đã mua được một ký hồng, trong khi dưới xuôi, cái giá đó cũng gấp gần cả chục lần, đúng là một trời một vực. Thấy thì thèm, nhưng thật ra tôi ăn cũng chẳng được bao nhiêu trái. Gia chủ giới thiệu cho tôi về cà phê do ông tự chế biến. Ông hái từng trái cà phê chín chứ không tuốt cả nhánh như người ta thường làm, tự ông rang, xay, không thêm một hóa chất nào, chính vì vậy, cà phê của ông có mùi vị đặc trưng, cho dù nó không thơm như những loại cà phê khác, nhưng đây chính là cà phê sạch, cà phê nguyên chất nhất. Tiện tay, ông tặng tôi một bao ni lông cà phê thành phẩm, xem như là quà từ miền cao nguyên. Cho dù tôi là dân ít uống cà phê, nhưng tôi cũng rất thích, vậy là khi về nhà có thể nhâm nhi ly cà phê sạch, cho dù có thể cả tháng tôi mới uống hết…
Tôi chia tay gia chủ ra về. Nắng cao nguyên vẫn đổ vì đang buổi trưa. Chiều nay, tôi cùng chị Loan xuống Đơn Dương rồi chạy ngược lên Đà Lạt, tôi có hẹn với một số anh chị em tại nhà thờ Tin Lành Đà Lạt. Trên con đường dốc đổ về Đơn Dương, chiếc xe thả chạy bon bon. Tuy vậy tôi vẫn cảm nhận được cái lạnh theo đuổi tôi trong từng cơn gió. Phía dưới kia, đập nước Đa Nhim như một cái hồ khổng lồ, bên dưới nó, những ngôi nhà xinh xắn nằm sát nhau, thị trấn đẹp như một bức tranh vẽ, đúng là nhìn từ trên cao, cái gì cũng đẹp. Tôi chia tay phố núi cao với một chút tiếc nuối, mong rằng ngày gặp lại không xa, để có dịp bước lên những con dốc, được cảm nhận gió cao nguyên mát lạnh người và bước đi trong nắng cao nguyên. Biết đâu tôi lại gặp được một “Em Pleiku má đỏ môi hồng” thật sự nào đó, lúc đó, nắng cao nguyên chắc chắn sẽ đẹp hơn, sẽ nồng nàn hơn trên đôi má của người con gái cao nguyên, và trên mọi lối đường về cũng sẽ ấm áp hơn cho dù sương và gió núi vẫn phủ dày mỗi khi chiều xuống…
Tạm biệt.
VŨ HƯỚNG DƯƠNG

GIÁNG SINH GIỮA ĐẠI NGÀN


GIÁNG SINH GIỮA ĐẠI NGÀN




Chiều 22/12, sau khi sắp xếp công việc, tôi cùng anh Hải lên đường về đơn vị để báo cáo tổng kết năm. Thật ra, tôi cũng chỉ là thành viên đi nhờ thôi, vì đâu có chức vụ gì, nhưng anh Hải nói với anh em trong đơn vị là đi một mình buồn, vả lại, thời tiết mưa gió cũng khá nguy hiểm, nên dù sao, có hai người cũng tốt hơn. Tuy vậy, tôi cũng biết “ý đồ” của anh Hải, muốn tôi được về thăm nhà, và nhất là được dự Lễ Giáng sinh, sau bao năm không đi nhà thờ.
Nói chỉ là hai, nhưng thật ra chúng tôi có đến ba người. Bên đơn vị nữ, chị đội trưởng bị sốt rét nên không thể đi được, đành cử chị Hoa đi thế. Không như đơn vị nam, ở đơn vị nữ rất ít người muốn về thành phố giữa mùa mưa này, do đường rất khó đi, nhưng chị Hoa thì khác, bởi đã có người sẵn sàng giúp đỡ chị, đó là anh Hải. Chính vì vậy, chị rất vui vẻ khi nhận được yêu cầu của đội trưởng mà không một tiếng phàn nàn, và dĩ nhiên cả đơn vị ai cũng biết rõ lý do đó…
Đường xuống quốc lộ khá xa nên mấy anh em chúng tôi phải khởi hành từ khá sớm. Nói là sớm, nhưng cũng phải đến 8g mới lên đường được, phần vì gió lạnh, đường trơn, phần vì phải chờ đợi chị Hoa “chuẩn bị”, phụ nữ mà. Anh Hải, tuy không nói ra, nhưng cũng hơi bực mình vì phải chờ lâu, nhưng cuối cùng, khi thấy chị Hoa đến, anh lại tỏ ra rất dịu dàng, đúng là sức mạnh của tình yêu.
Ba chúng tôi lên đường. Rời khỏi trại được chừng mười phút, thì nghe tiếng kêu phía sau:
-         Chị Hoa, chị Hoa, chờ em với!!!
Hóa ra là Âu đang hối hả chạy theo. Anh Hải hỏi:
-         Chớ em ra đây làm chi, sáng ni không đi rừng hả?
-         Em xin được rồi, về cùng với chị Hoa.
-         Rứa hả, chị Hoa hỏi, răng mà xin được hay rứa?
-         Em nói… Âu nhìn tôi cười cười. Chuyến ni về, nhà anh Vũ ra thăm em, răng em không có mặt được.
Anh Hải cười to:
-         Bớ làng, cái thằng. Thiệt không đó?
Tôi hơi lúng túng:
-         Đâu có. Làm chi có.
Âu cười:
-         Em nói đại đó, rứa chị đội trưởng mới cho đi, còn nói, hồi mô đám cưới phải mời cả đơn vị nữa…
Chị Hoa nhìn tôi:
-         Chết rồi Vũ ơi, bữa ni là hết đi tán gái được rồi nghe. Đứa mô mà nhìn thấy con Âu là nó sảng hồn, không dám ưng em đâu.
-         Cái con dạn thiệt, nói rứa rồi… Anh Hải trách.
-         Thì không có chi mô, khi em, về nói lại, là chưa đi thăm được vì nhiều lý do, anh Vũ hỉ.
Nhìn cái khuôn mặt dễ thương của Âu, tôi chỉ biết cười trừ. Cái cô này thiệt, bây giờ thì không lo, vì chỉ có mấy anh em ở đây, nhưng đến mai mốt cả đơn vị đều biết hết thì hơi khổ cho tôi, thôi kệ, cũng vui vui…
-         Thôi đi cho rồi. xuống cho nhanh chớ không thì tối, đón xe không được thì mệt lắm. Anh Hải giục.
Cả bốn người chúng tôi vội lên đường. Đúng như lời anh Hải nói, do trời mưa nhiều ngày qua nên đường đi khá vất vả, chiều tối, chúng tôi mới đến được con sông Cùng, gọi là sông nhưng thật ra cũng chỉ là một dòng suối chảy ngoằn ngoèo. Nước sông đang lớn.
Mấy anh em ngao ngán ngồi nhìn dòng nước lũ từ thượng nguồn đang đổ về cuồn cuộn. Dòng nước đục ngầu, hung dữ. Ai nấy đều im lặng, anh Hải thì cứ đi lên đi xuống xem dòng nước. Bây giờ, chắc ai cũng đang nghĩ đến những giây phút được sum vầy bên gia đình, mà có lẽ không thể thực hiện được rồi. Dòng nước thì cứ chảy như vô tận, trời thì cứ mưa, hình như không bao giờ chấm dứt.
Bỗng một tiếng nói từ trong bụi rậm:
-         Nước ni không về dưới nớ được đâu.
Chúng tôi giật quay lại, một người đàn ông gầy gò, tuổi trung niên như chui ra từ rừng thẳm, ngồi nhìn chúng tôi với đôi mắt cảm thông.
Chị Hoa nhanh nhẹn hỏi:
-         Chú ở vùng ni hở chú?
-         Ờ, tôi ở đây… mà cũng không phải ở đây. Tôi lên đây cùng gần hai chục năm rồi.
Anh Hải hỏi:
-         Nước như ri, trời mưa như ri, thì chừng mô nước mới rút hả chú?
-         Theo tôi thì, nếu tối ni trời không mưa thì chắc chiều mai mấy cô mấy chú đi được đó. Chỉ có điều, nước cũng còn lớn, lội qua hơi vất vả.
Tôi nhìn lên trời:
-         Trời ni chắc không mưa lâu chú hỉ?
-         Cũng không biết, nhưng hình như mây cũng gần hết, hy vọng tối ni hết mưa.
-         Kiểu ni mình phải ở lại qua đêm rồi. Chú ơi, gần đây có nhà ai không chú.
Người đàn ông trả lời:
-         Mấy cô chú đi ngược lên khoảng năm trăm thước, rồi rẽ trái theo đường mòn, tới dưới gốc cây cao su thì có một cái nhà, có hai con bé nhỏ ở nhà, vô nhà nớ xin ở.
Mấy anh em chúng tôi chào tạm biệt và lên đường tìm chỗ nghỉ lại. Đúng như lời ông nói, có một ngôi nhà mái ngói nhỏ, nằm cuối chân núi. Hai cô bé đang ngồi trong nhà nhìn trời mưa đang đổ xuống cái sân rộng phía trước.
Chị Hoa nhanh nhẹn hỏi:
-         Chào hai cô bé, có ba mẹ ở nhà không?
Con bé lớn trả lời:
-         Ba con nói, mời mấy cô chú vô nhà.
-         Ủa, ba con là ai rứa?
-         Là tôi đây, mấy cô chú tìm nhà có khó không?
-         Dạ chào chú.
-         Tôi là Trung, cũng không lớn hơn mấy cô chú bao nhiêu đâu, chỉ sống ở nơi nầy hơi vất vả nên mau già. Kêu bằng anh cho dễ nghe.
Chúng tôi ai nấy đều dạ răm rắp. Hóa ra chủ nhà chính là người đàn ông trung niên lúc nãy chúng tôi gặp dưới suối, chắc anh ta đi đường tắt về nên nhanh hơn hẳn chúng tôi. Tính cách anh ta thật đặc biệt. Muốn chúng tôi ở trú đêm tại nhà mình nhưng lại không nói gì. Anh Hải thấy cũng lạ lạ nên không dám hỏi nhiều, chỉ im lặng bước theo vào nhà.

Bữa cơm tối thật đơn giản, rau và mấy con cá muối. Mấy anh em chúng tôi, sau một ngày cũng khá mệt, lại đói bụng nên ăn rất ngon, không khách sáo gì cả. Hai đứa bé cũng rất vui vì lâu lắm nhà chúng mới có khách, chúng cứ bám lấy chị Hoa và Âu, như không thể rời xa.
Anh Trung ít nói, sau khi biết chúng tôi ở đơn vị về xuôi thì cũng không nói gì, cứ hối thúc chúng tôi đi ngủ để lấy sức mà lên đường vào ngày mai. Trước giờ đi ngủ, anh Hải nói với tôi:
-         Hôm nay là 22/12 rồi, cũng gần tới Giáng sinh, hay là mình tổ chức Giáng sinh tại đây đi.
-         Cũng có lý, giữa núi rừng mà tổ chức được thì thấy ấm cúng lắm. Chị Hoa nói.
Âu cũng đồng ý:
-         Mình mời gia đình họ cùng tham gia, cùng hát mấy bài Thánh Ca, rồi chúc mừng Giáng sinh gia đình họ, biết đâu làm chứng cho họ tin Chúa được.
Nói là làm. Anh Hải xin phép chủ nhà, rồi mời họ cùng dự “lễ Giáng sinh” với chúng tôi. Anh Trung quay lại nói vợ và các con:
-         Mấy người ni ở nhà thờ nè. Má sắp nhỏ lấy mấy quyển Thánh Ca ra rồi nhóm lại cho vui.
Hóa ra gia đình anh Trung cũng là tín đồ, lên đây đã lâu. Hồi xưa, đi cùng gia đình anh có tớ gần chục gia đình khác trong Hội Thánh. Hai ba năm gần đây, đất đai không còn màu mỡ, mùa màng thất bát, nên họ dời vô trong núi sâu hết, chỉ còn lại một mình gia đình anh. Người ở gần thì cũng phải hơn một cây số đường rừng, thành thử rất ít gặp. Tuy vậy, họ cũng hẹn với nhau, mỗi tháng cố gắng đến thăm nhau, cùng nhóm lại để giữ gìn đức tin, cầu nguyện cho nhau. Đứa con lớn đã đi học dưới thành phố, còn lại hai đứa nhỏ ở với anh chị, đi học tuy cũng xa nhưng cũng không đến nổi nào, chúng đã quen. Bao nhiêu năm nay, họ sống ở đây cũng buồn, gia đình rất mong gặp được người trong Hội Thánh, nhưng vùng này cũng ít có người qua lại.
Cả nhà cùng chung hát mấy bài Thánh Ca Giáng sinh: Phước cho nhân loại, Đêm Yên lặng. Anh Hải, cũng trích đoạn Kinh Thánh trong Luca 2: 14 "Sáng danh Chúa trên các từng trời rất cao, Bình an dưới đất, ân trạch cho loài người!" để suy gẫm với mọi người qua đề tài: Bình an cho loài người. Tôi và Âu chăm chú lắng nghe, bởi hôm nay anh nói có vẻ hay hơn ngày thường rất nhiều. Còn chị Hoa thì khỏi nói, chỉ cần nhìn cái cách chị nhìn anh Hải, đôi mắt sáng ngời, đôi môi hình như cũng mấp máy theo từng lời nói của anh thì cũng đủ biết chị thích thú đến mức nào. Anh Trung thì vẫn im lặng như vốn có, nhưng cái đầu anh cứ lắc lắc, khi thì nhìn Kinh Thánh, khi thì âu yếm nhìn vợ con, tôi biết anh cũng rất vui. Hai đứa nhỏ cứ nhìn chúng tôi cười, ánh đèn sáng lấp lánh trong mắt chúng thật là đẹp, trông như hai thiên thần bé nhỏ của đêm Chúa giáng sinh vừa mới xuất hiện. Chị Trung thì cắm cúi ghi chép lại bài chia sẻ của anh Hải, chị đúng là người phụ nữ đảm đang, hiền hậu.
Sau giờ nhóm, chị Hoa và Âu còn tập cho hai đứa bé bài Merry Christmas and Happy New Year bằng tiếng Anh nữa chứ. Nhìn nụ cười của anh chị chủ nhà, chúng tôi biết họ vui lắm, tôi chỉ thầm mong cho cuộc sống họ sẽ thêm có thêm nhiều ngày vui như vậy.
Mấy gói quà Giáng sinh định đem về xuôi, bây giờ chúng tôi đem ra tặng cho gia đình anh Trung. Hai đứa nhỏ rất vui, còn anh chị thì lúc đầu không nhận. Sau khi nghe chị Hoa nói, họ mới miễn cưỡng nhận quà. Anh Trung còn tặng lại cho chúng tôi mỗi người một chai mật ong rừng chính tay anh lấy. Anh nói mua mật ở ngoài chợ không tốt vì có thể là ong nuôi, cho ăn nước đường, hoặc mật bị pha trộn. Mật ong rừng rất tốt, cũng hiếm, nên chỉ dành tặng cho khách quí, và thật may mắn, cả bốn người chúng tôi đều là khách quí. Anh còn khoe, năm nay được mùa, trúng cả trăm lít mật.
Đêm Giáng sinh đó chúng tôi ăn tiệc mừng bằng một nồi chè khoai môn. Mọi người tự nhiên gần nhau hơn, ấm cúng như là một gia đình. Và dù, đêm Giáng sinh ấy rất đơn sơ, không ánh đèn rực sáng, không âm thanh rộn ràng, nhưng niềm vui thì thật khó tả. Cái không gian bé nhỏ ấy có lẽ là không gian ấm áp nhất trong khu rừng này, bởi từ đó, đã vang lên những giai điệu ngợi ca Hài nhi Giê-xu giáng sinh làm người, và cũng chính trong giây phút ấy, những người con Chúa tìm thấy được sự bình an, vui thỏa trong lòng, khi lời Chúa luôn nhắc nhỡ họ: … Bình an dưới đất, ân trạch cho loài người.

Dĩ nhiên câu chuyện không chỉ đến đó, nhưng tôi thật sự không muốn nói thêm, bởi giây phút chia tay là giây phút khiến người ta bao giờ cũng cảm động. Ngày hôm sau trời đã tạnh hẳn, nước cũng đã rút dần, chúng tôi phải tiếp tục lên đường cho kịp thời gian. Chị Hoa và Âu thì khóc sướt mướt khi chia tay cùng hai bé nhỏ, hóa ra dù thời gian chỉ là một đêm mà họ đã gắn kết với nhau rồi. Anh Hải và tôi thì hứa với vợ chồng anh Trung chắc chắn sẽ trở lại để thăm họ. Và điều cuối cùng, tôi muốn nói ra, thật cảm tạ Chúa vì đã cho cơn nước lũ, nếu không có nó, chúng tôi không thể được dự một lễ Giáng sinh đáng nhớ như vậy, một lễ Giáng sinh chỉ có mấy con người, giữa đại ngàn mưa gió, vậy mà vẫn thấy vui, vẫn thấy ấm áp tình yêu Thiên Chúa, tình yêu giữa những người con Chúa.
Vũ Hướng Dương


SUY NGHĨ TỪ ĐẠI DỊCH EBOLA

SUY NGHĨ TỪ ĐẠI DỊCH EBOLA



khiến cho hơn 600 người bị nhiễm và hơn 70% số đó đã tử vong. Sau nhiều lần xuất hiện nhỏ lẻ, đến cuối năm 2013, Ebola trở lại ngay chính vùng đất đầu tiên nó xuất hiện và lần này nó trở nên nguy hiểm hơn rất nhiều. Tính đến ngày 07/11/2014 đã có 8 quốc gia báo cáo tổng cộng 13.268 người mắc bệnh, trong đó 4.960 người đã tử vong. Ngay cả những nhân viên y tế cũng đã trở thành bệnh nhân, gần 500 người bị lây nhiễm. Liberia, Sierra Leone và Guinea là những nước chịu ảnh hưởng nhiều nhất, trong khi họ đang đối diện với nguy cơ đói kém và nội chiến.

Trong lịch sử nhân loại, không ít lần đại dịch xuất hiện và đã giết chết khá nhiều người.

     - Đại dịch “Cái chết đen” đỉnh điểm vào những năm 1346-1353, là một trong những thảm họa kinh hoàng về bệnh tật đối với loài người, đã cướp đi sinh mạng khoảng 75 – 200 triệu người (30-60% dân số châu Âu). Nó không chỉ là nỗi ám ảnh của loài người mà nó còn làm thay đổi lớn đời sống xã hội, tôn giáo và cả kinh tế của châu Âu và châu Á. Phải mất đến 150 năm, dân số của châu Âu mới phục hồi trở lại. Nguyên nhân gây nên đại dịch này là loại vi khuẩn Yersinia pestis lưu hành trong loài gặm nhấm (chủ yếu là chuột) và bọ chét sống trên cơ thể chúng. Bệnh lây chủ yếu qua bọ chét có nhiễm trùng. Ban đầu, dịch bùng phát ở Trung Á, sau đó theo các tàu buôn mà xâm nhập vào vùng Địa Trung Hải và châu Âu. Khi nhiễm loại virus này, bệnh nhân chỉ có thể kéo dài sự sống từ 60-180 ngày. Cái chết đen được chia thành ba nhóm: Dịch hạch thể phổi, thể hạch và thể nhiễm trùng huyết. Thể nhiễm trùng huyết được xem là loại gây tử vong cao nhất. Mãi đến thế kỷ 19, con người mới thực sự kiểm soát được căn bệnh này.

     - Đại dịch hạchJustinian Plague diễn ra từ năm 541-542 sau Công nguyên, tại Đế quốc La Mã. Với đặc điểm nhận diện là bàn tay của bệnh nhân dần hoại tử. Đây là một trong những dịch bệnh gây nhiễm khuẩn kinh hoàng nhất, lớn nhất trong lịch sử loài người, nhất là châu Á, Bắc Mỹ, Ả Rập và châu Âu. Nó được so sánh với sức hủy diệt của đại dịch “Cái chết đen”. Mỗi ngày có tới 5.000 người chết, thậm chí đỉnh điểm lên tới 10.000 người tại Constantinople. Loại bệnh này tiếp tục hoành hành sau đó 2 thế kỷ, số người mà nạn dịch này cướp đi không dưới 25 triệu người.

     - Dịch cúm Tây Ban Nha vào năm 1918-1919 là bệnh cúm gia cầm H1N1 lây lan từ chim sang người từ vùng Trung Tây của Mỹ, sau đó lan sang Tây Ban Nha và cướp đi khoảng 8 triệu người, nên đại dịch này mới có tên gọi dịch cúm Tây Ban Nha. Cái chết đến rất nhanh chóng sau triệu chứng sốt cao, đau họng, sổ mũi... Chỉ trong vòng 2 năm, đại dịch này đã cướp đi sinh mạng của khoảng 50-100 triệu người.

     - Dịch tả được ghi nhận trong y học của Ấn Độ tại châu Á khoảng gần 600 năm trước Công nguyên. Đây là bệnh nhiễm trùng đường ruột, do trùng Vibrio cholerae gây ra. Độc tố của vi trùng này gây tiêu chảy cấp dẫn đến mất nước và tử vong. Trong vòng 200 năm, loại vi trùng này đã gây ra 7 trận đại dịch, giết hại hàng triệu người.

     - Bệnh đậu mùa cũng là một trong số những căn bệnh đã từng gây ra những đại dịch mà loài người phải hứng chịu. Đây là bệnh truyền nhiễm chỉ có ở loài người, gây ra bởi 2 loại virus Variola major và Variola minor. Bệnh xuất hiện vào khoảng 10.000 năm trước Công nguyên. Bệnh nhân mắc bệnh này sẽ có các biểu hiện mệt mỏi, nổi ban đỏ đặc trưng. Sau đó biến đổi thành mụn mủ lây lan rất mạnh. Bệnh đậu mùa đã giết chết khoảng 400.000 người dân châu Âu ở những năm cuối thế kỷ 18 và 2 triệu người vào năm 1967. Sau chiến dịch chủng đậu vắc-xin trong hai thế kỷ 19 và 20, bệnh đậu mùa đã mất hẳn từ năm 1979.

     - Đại dịch AIDS từ khi phát hiện ra HIV vào năm 1981 cho đến năm 2006, đã giết chết hơn 25 triệu người. Hiện nay, khoảng 0,6% dân số thế giới bị nhiễm HIV.

     - Những năm gần đây, dịch hô hấp cấp, cúm gia cầm,… xuất hiện, cũng làm không ít người chết, tuy nhiên so với đại dịch trong quá khứ hoặc đại dịch Ebola thì qui mô chúng vẫn còn quá nhỏ.

Tra cứu Kinh Thánh, chúng ta thấy, đại dịch không phải bây giờ mới có. “Bệnh dịch” là từ ngữ thường chỉ về loại bệnh xảy ra trong một nhóm dân số nhất định, trong một khoảng thời gian nhất định, lây lan vượt quá sự hiểu biết trước đó. Y học cổ truyền hay gọi là “dịch lệ” vì quá độc hại cho cộng đồng, hay “ôn dịch” vì thường gây sốt. Do lây lan mạnh, thường gây ra triệu chứng hôi thúi và tử vong nên được Kinh Thánh xem là tai vạ.

Trong sách Xuất 9:15; Lê-vi 26:25; Phục Truyền 28:21 chép, Đức Chúa Trời đã “khiến” hay “giáng” dịch bệnh, có nghĩa là Ngài cho phép những điều kiện bên ngoài xảy đến làm cho dịch bệnh bùng phát ra. Chúa thường cảnh báo dân sự bằng các tai vạ bởi gươm, đói kém và ôn dịch (Ê-xê-chi-ên 6:11). Như một qui luật: dịch bệnh là hậu quả của chiến tranh, mất mùa, đói kém…

Sách Xuất từ đoạn 7-11 đã ghi lại 10 tai vạ mà Pha-ra-ôn và đất nước Êdíptô đã gánh chịu khi không đáp ứng lời phán bảo của Chúa qua Môise, cho phép dân Ysơraên ra đi. Chính vì sự cứng cỏi và vô tín của Pharaôn mà Đức Chúa Trời đã giáng 10 tai vạ xuống trên cuộc sống của họ:

     - Tai vạ thứ nhứt: nước sông bị hôi thối
     - Tai vạ thứ nhì: loài ếch nhái
     - Tai vạ thứ ba: muỗi
     - Tai vạ thứ tư: ruồi mòng
     - Tai vạ thứ năm: súc vật bị dịch lệ
     - Tai vạ thứ sáu: ghẻ chốc
     - Tai vạ thứ bảy: mưa đá
     - Tai vạ thứ tám: cào cào
     - Tai vạ thứ chín: sự tối tăm
     - Tai vạ thứ mười: con trai đầu lòng bị giết chết

Tai vạ cuối cùng thật kinh khiếp, Kinh Thánh ghi lại: “Trong cả xứ Ê-díp-tô sẽ có tiếng kêu la inh ỏi, cho đến đỗi chưa hề có, và cũng sẽ chẳng bao giờ có giống như vậy nữa.” (Xuất Êdíptô ký 11:6)

Cảnh tượng ngày cuối cùng của nhân loại cũng không khác bao nhiêu, Chúa Giêxu nói về những ngày đó: “…Dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia; sẽ có sự động đất lớn, có đói kém và dịch lệ trong nhiều nơi, có những điềm lạ kinh khiếp và dấu lớn ở trên trời ...” (Luca 21: 10-12)

Trong sách Khải huyền, Giăng cũng đã được Đức Chúa Trời cho thấy những hình ảnh của ngày sau rốt: “Tôi nhìn xem, thấy một con ngựa vàng vàng hiện ra. Người cưỡi ngựa ấy tên là Sự chết, và Âm phủ theo sau người. Họ được quyền trên một góc tư thế gian, đặng sát hại dân sự bằng gươm dao, bằng đói kém, bằng dịch lệ và bằng các loài thú dữ trên đất.” (Khải huyền 6:8)

Chúng ta không biết những đại dịch hiện nay đã là cuối cùng của nhân loại hay chưa, nhưng chắc chắn đó là những hiện tượng mà Đức Chúa Trời muốn nhắc nhở chúng ta: thời kỳ sau rốt đã đến gần. Thái độ của mỗi người sẽ khác nhau tùy theo niềm tin của họ, nhưng đối với những người con Chúa, đặt sự trông cậy vào ơn yêu thương của Chúa là điều giúp chúng ta có những sự lựa chọn đúng đắn, sống theo ý Chúa để có thể có đời sống đạo kết quả, làm vinh hiển danh Ngài.

Vũ Hướng Dương

MÁI HIÊN NHÀ DƯỚI MƯA

MÁI HIÊN NHÀ DƯỚI MƯA



Trời hôm nay mưa khá lớn, hình như ảnh hưởng bão ở đâu đó. Những cơn mưa như trút nước ào ào đến rồi lại đi, cả ngày cũng cả chục cơn mưa như vậy.

Thời tiết tháng mười hai đỏng đảnh là chuyện thường, tôi ngồi nhìn ra ngoài đường, lúc mưa lúc tạnh cũng khá ngộ. Cái thị trấn nhỏ của tôi chẳng qua là một xóm nhà mọc tự phát trên quốc lộ 1, nó cũng uốn éo theo con đường, phía sau những ngôi nhà, lại là đồng ruộng. Hôm nay, tôi không có tiết, lại cúp điện, nên không làm gì được. Thời buổi hiện đại cũng có cái bất tiện, con người quá phụ thuộc vào nó, vì vậy, mỗi khi có trở ngại, là hầu như không xoay sở được. Nói thì nói vậy, chứ tôi nghĩ đôi khi cúp điện cũng tốt, nó cho ta có thời gian thư giãn, làm chậm lại cuộc sống đang trôi nhanh để nhìn kỹ hơn, rõ hơn về những gì đang xảy ra với mình, và hôm nay là một ví dụ.

Phía ngoài đường cái, những chiếc xe cứ tiếp tục chạy, băng qua vũng nước làm tung tóe lên khắp nơi. Mưa mỗi ngày mỗi lớn. Bây giờ đã vào mùa rồi, thời tiết cũng lạnh, chứ nếu như mùa hạ có những cơn mưa như thế này thì bao giờ lũ con nít trong xóm cũng cùng nhau chạy ra tắm mưa cho xem. Người lớn có la thì la, chứ chúng thì vô tư lắm, nhiều đứa cứ tồng ngồng mà đùa giỡn, đúng là trẻ con, không chút lo âu.

Phía bên kia đường có hai đứa nhỏ, hình như hai chị em thì phải, đang đứng nấp mưa. Đứa em thì tròn trịa, còn chị thì hơi ốm, nhưng đứa nào cũng dễ thương. Tôi không biết mấy đứa nhỏ này, chắc là ở xa tới, chứ xóm tôi thì không có, mà có thì nó cũng đội mưa chạy về nhà rồi chứ còn đứng đó để làm chi.

Đứa em đang nghịch nước mưa, nó đưa ra tay hứng những giọt nước đang chảy từ mái nhà xuống, búng búng ngón tay như đàn piano, rồi cười thích thú. Cái khuôn mặt tròn, đôi má phúng phính, đôi mắt to đen nhánh, thật dễ thương không gì bằng. Chị gái thì có vẻ chững chạc hơn, đứng nhìn em chơi chỉ cười, chứ không nói gì. Thỉnh thoảng, chị lại vuốt, sửa tóc lại cho em, khiến tôi thấy đúng là hai chị em này rất thân thiết với nhau.

Trên đường cái, hai mẹ con đang đi dưới mưa. Một chiếc xe tải chạy qua, bắn tung tóe nước. Thằng bé hoảng hốt, ngã té dưới vũng nước, người mẹ vội đỡ nó dậy. Thằng cu nhỏ, người ướt tèm nhem, nó khóc hu hu. Tôi nghe người mẹ ôm nó và dỗ, nhưng hình như cú ngã khá đau nên nó vẫn không hết khóc. Người mẹ bồng con vào đứng trong hiên nhà. Hai chị em cũng xúm lại chơi với thằng bé. Bỗng hai chị em nhìn nhau, nói gì đó, thế rồi đứa em gái bước tới, lấy trong xách mình ra một con gấu bông, đưa cho thằng bé. Tôi thấy người phụ nữ cứ khoát tay, nhưng thằng bé cứ ra vẻ thích thú lắm, nó cười rất tươi. Con bé em nói với người mẹ, tôi đoán chắc nó đang thuyết phục người mẹ cho thằng cu nhận món quà đó, và quả thật, cô ta đã bằng lòng.

Hai chị em đứng nói chuyện với người phụ nữ khá lâu. Tôi không biết chuyện gì, nhưng có vẻ là một sự thuyết phục, người phụ nữ lắng nghe chăm chú, lúc thì gật đầu, lúc thì hỏi lại, chỉ tay vào mình như muốn nói, như tôi thì có được không… Tuy không nghe, nhưng qua những cử chỉ, rồi tôi tự “thuyết minh” cho mình, tôi cũng thấy thú vị với những gì đang xảy ra bên kia.

Rồi đứa chị đến bên người mẹ, lấy một cuốn sách nhỏ, cái này hình như tôi đã thấy ở đâu rồi. À, hóa ra là truyền đạo đơn, chẳng lẽ… Còn cái giấy mời dự chương trình Truyền giảng Giáng sinh nữa chứ, cái này thì tôi không thể nhầm lẫn được vì tôi là người thiết kế và in nó cho Hội Thánh mà. Chị phụ nữ cầm tờ giấy mời, ngắm nghía một lát, rồi gật đầu, cái gật đầu làm hai chị em vui mừng cười rất tươi.

Bé Hòa từ phía nhà dưới chạy lên, nhìn ra ngoài đường:
-         Ba, ba thấy hai đứa bạn con đó không?
-         Đứa nào?
-         Thì hai chị em đang đứng nấp mưa bên kia đường đó.
-         Bạn hả, học cùng lớp à?
-         Không, bạn ở nhà thờ. Hắn ở Bình Định mới chuyển nhà ra, đi nhóm ở nhà thờ mình được ba tuần rồi đó.
À, hóa ra là tín đồ. Nhưng sao nó còn nhỏ mà lại làm chứng tốt vậy ta. Tôi thầm nghĩ. Còn mình, già cái đầu rồi, mà…
Tôi nói:
-         Con chạy qua mời hai bạn qua chơi cho biết nhà.
Không nghe tiếng trả lời, tôi nhìn ra đường, đã thấy Hòa cầm chiếc dù chạy qua với bạn mình. Mấy đứa nhỏ này thiệt.
Cảm ơn Chúa vì bé Hòa có những người bạn khá mạnh mẽ. Còn tôi, chắc phải xem lại mình…

Vũ Hướng Dương

TẢN MẠNTHÁNG 12: HUẾ VÀ NHỮNG NGƯỜI CON CHÚA

TẢN MẠN THÁNG 12: HUẾ VÀ NHỮNG NGƯỜI CON CHÚA
Ngày 10/12/2014
Vũ Hướng Dương


Tháng 12 về như một qui luật của thời gian, không đợi cũng đến, mà có đợi thì cũng chứng nấy chuyện. Nói một cách “bình thường nhất” thì, thời gian vẫn là thời gian, không ai có thể ngăn cản bước chân của nó được.
Tháng 12 năm nay có vẻ “lạ lùng” hơn những năm trước, mưa ít, nắng nhiều. Đến những ngày cuối tháng 11 rồi mà trời vẫn lúc nắng lúc mưa, ỏng ẻo như một cô gái tuổi đương thì(?). Dĩ nhiên cũng có những ngày mưa xối xả như trút nước, nhưng vẫn có những ngày “chút nắng, chút mưa” như trêu đùa thiên hạ, đi ra khỏi nhà không mang theo áo mưa thì không được, mà đem theo, có nhiều khi chẳng dùng đến…
Nói thì nói vậy, chứ theo “kinh nghiệm” của bản thân, thì thường đầu tháng 12 ít mưa, thì đến cuối tháng sẽ “lãnh đủ”. Đã từng có những ngày cuối tháng 12, vào dịp Giáng sinh, lạnh đến tê người, tôi phải mặc trên người 3 chiếc áo ấm, vậy mà thấy xương cốt, da thịt mình tê tái. Lạnh đến nổi không muốn bước ra khỏi nhà, mà đúng hơn là bước ra khỏi giường, cứ muốn nằm ì ra đó, chui hẳn trong tấm mền dày mà “hưởng thụ” những phút giây ấm áp.
Nói đến tháng 12, tự nhiên tôi lại nhớ đến những ngày còn bé. Không hiểu cái tuổi mình đã già đến mức độ “nhìn về quá khứ” chưa, nhưng thỉnh thoảng cũng hay nhớ về một thời có ba, có má, còn đầy đủ các anh em trong nhà, cái thời ngây ngô, vô tư như một cơn mưa bóng mây bất chợt, đến rồi đi, chẳng chút ưu phiền, sầu não…
Tôi vẫn nhớ về ngôi nhà nhỏ bên dòng sông An Cựu, cái lạnh ở Huế thật khủng khiếp, sau này tôi mới biết, khi qua đèo Hải Vân, những cái khắc nghiệt của khí hậu đã giảm đi rất nhiều nhờ bức tường chắn thiên nhiên đó. Thời đó, cái hạnh phúc thật đơn sơ, tôi nhận biết được, qua nụ cười, ánh mắt và những lời thì thầm của ba má khi nhìn ba anh em chúng tôi nằm trên chiếc giường gỗ chờ ba má tôi làm kẹo đậu phụng, một món ăn khoái khẩu trong những ngày mưa gió. Rồi tự nhiên tôi lại nhớ một lần má sai đi mua bánh tráng về làm kẹo đậu, những cơn gió mùa đông dữ dội đã làm bể hết mấy cái bánh trên tay tôi, tôi chạy về nhà, nước mắt chảy tràn, còn má tôi thì cứ cười hoài…
Nhớ con đường nhỏ dọc bờ sông, con đường đưa chúng tôi đến trường Thiên Hữu, đến nhà thờ Phú Cam, thế giới của chúng tôi hầu như chỉ gói gọn trong một góc thành phố Huế, nhưng vẫn vô cùng lớn trong những nghĩ suy của chúng tôi lúc bấy giờ. Tôi vẫn còn nhớ những buổi trưa ngồi bên hiên nhà thờ Dòng Chúa Cứu thế, trước trường Thiên hữu, lộng gió, mát mẻ vô cùng, rồi cùng các bạn chạy chơi bên dãy hành lang lớp học, những lần được nghe chuyện kể Kinh Thánh vào thứ hai đầu tuần… Cái thế giới nhỏ bé ấy lại chất chứa bao yêu thương tuyệt vời, nó gắn liền với cái gia đình của tôi, và dù có xa Huế bao nhiêu năm, tôi vẫn không thể nào quên được nó. Sau này, khi có dịp trở lại Huế, dọc theo con đường Nguyễn Huệ, đi ngang nhà thờ Dòng Chúa Cứu thế, nhìn ngôi trường Thiên Hữu đã không còn, nhìn lại cầu Lò Rèn (Kho Rèn?) và dòng sông An Cựu với nhiều đổi thay, trở về tìm lại ngôi nhà xưa, nhưng dấu thời gian đã không còn, vật đổi sao dời, tôi chỉ biết đứng bên bờ sông chụp vài tấm hình để kỷ niệm, để tự nhớ rằng, trong quá khứ xa mờ, cả gia đình: ba má và mấy anh em tôi cũng đã bước đi trên con đường nhỏ này, đã chung sống hạnh phúc trong một căn nhà nhỏ nào đó nơi đây…
Tháng 12 lại là khoảng thời gian làm cho con người càng ngày càng gần nhau. Xích lại một chút cho ấm, gần lại một chút cho đông vui. Tôi lại nhớ chị Thủy và những người bạn đã quên tên, một thời đóng giả cao bồi, uống nước é, bắn súng nước… Rồi rủ nhau tổ chức cắm trại phía sau vườn nhà, đua nhau xuống ao bắt cá, hóa ra toàn là nòng nọc. Rồi nhớ lại, buổi trưa, má tôi viện trợ cho các trại viên món trứng chiên, cùng những trái cà pháo, cà chua nhỏ như ngón tay cái… Dẫu thời gian qua rất lâu, nhưng sao những hình ảnh ấy, những con người ấy vẫn đọng mãi trong ký ức của tôi.
Lần đầu tiên tôi trở lại Huế sau bao nhiêu năm, đó là chuyến đi thăm MS Đinh Văn Tư, khi ông mới ra Huế quản nhiệm, nếu không kể trước đó, hồi còn đi học, tôi có ra Huế thăm một người bạn đang học tại trường Đại học Khoa học Huế. Những ngày tháng 12, Huế lạnh đến không ngờ. Buổi tối, bà MS Đinh Văn Tư đưa cho tôi mượn chiếc áo ấm dày, lại thêm một chú gấu bông to tướng, nằm trong căn phòng kín mít, vậy mà vẫn lạnh thấu xương. Đã thế, tôi còn được nghe nói, lạnh thế này là chưa thấm vào đâu cả, ở đây, có ngày còn lạnh hơn rất nhiều.
Huế đã khác xưa và tôi cũng vậy. Tôi đã là một người con Chúa, chứ không còn là một cậu bé suốt ngày lon ton chạy theo người lớn đi nhà thờ, nhà thờ Phú Cam, Thiên Chúa giáo La mã, chứ không phải nhà thờ Tin Lành như bây giờ. Cái thành phố nhỏ bé nên thơ ngày xưa đã đô thị hóa nhanh chóng, sầm uất hơn rất nhiều. Giữa một cố đô cổ kính, ngôi nhà thờ nằm trên đường Nguyễn Du khá khiêm tốn, và cả thành phố chỉ có một ngôi nhà thờ Tin Lành duy nhất ấy, dĩ nhiên là không kể một số điểm nhóm nhỏ của các hệ phái… Anh Phóng, ông bà Thành, chị Dư, Hồng, Dũng, Lợi…những người con Chúa trên một vùng đất cằn cỗi thuộc linh ấy vẫn như những người lính trận, kiên trì, nhẫn nại với tấm lòng yêu mến Chúa, yêu thương đồng bào mình, vẫn luôn xông xáo ra đi đem Tin Lành đến cho mọi người…
Tự nhiên, tôi lại gắn bó với Huế, không chỉ vì nơi đây có một thời thơ ấu của tôi mà còn là sự gắn kết của tình yêu trong Chúa từ những người anh em không họ hàng này. Tôi vẫn biết con đường trước mắt đầy khó khăn, nhưng với tấm lòng khát khao hầu việc Chúa của họ, trông cậy ơn yêu thương của Ngài, Tin Lành ngày sẽ được nhiều người biết đến ở thành phố cổ kính này. Dĩ nhiên, đó cũng là chuyện của nhiều năm trước, bây giờ, Hội Thánh đã có quản nhiệm mới, có những con người mới, một thế hệ trẻ hơn, sôi động hơn, năng lực hơn, và mong rằng sẽ kết quả nhiều hơn cho nhà Chúa trong những ngày này…
Ngày tôi trở về, chị Dư gởi cho tôi một phong bì, nói là để bù tiền xăng cho tôi. Đến cây xăng dưới chân đèo Phú Gia, tôi mới biết chị gởi cho tôi một món quà khá lớn. Thú thật, đây là lần đầu tiên có một người cho tôi như vậy. Quãng đường về nhà còn rất xa, nhưng cái tình của những người con Chúa đã làm tôi thấy gió mưa, giá lạnh mùa đông hình như không còn là trở ngại, có chăng nó làm cho cuộc sống thêm phần thi vị, mà những cuộc hành trình có mưa, có nắng mới đầy kỷ niệm.
Xin cảm ơn Cha yêu thương đã cho tôi những tháng ngày phước hạnh. Dẫu chỉ là hạt cát nhỏ trong sa mạc, không chức phận, nhưng được làm người đầy tớ bé nhỏ của Chúa đã là vinh dự lớn lao nhất của tôi rồi, còn gì sánh bằng. Và tôi, với “niềm tự hào” ấy, vẫn mãi lên đường với bài ca muôn thuở: Bước với Chúa yêu thương. Ôi, tháng 12 thật tuyệt vời.
VŨ HƯỚNG DƯƠNG

TÌNH MIỀN TÂY

TÌNH MIỀN TÂY
Ngày 25/11/2014
 Vũ Hướng Dương


Trong lòng tôi chưa bao giờ nghĩ rằng mình có thể đến được miền tây, và cái cảm giác hưng phấn cho đến bây giờ vẫn còn ở trong con người tôi. Dĩ nhiên, cũng sẽ có người nói rằng, ơ, miền tây thì có gì, tôi đi hoài, cả trăm lần. Vâng, nhưng đối với một kẻ “quê mùa” như tôi, thì dĩ nhiên cái lần đầu tiên này rất quan trọng, bởi những cảm xúc vô cùng chân thực và nó khiến tôi không thể nào quên, nhất là cái “Tình miền tây”
Sau khi xuống chuyến xe từ Vĩnh Long đi Sóc Trăng, anh Út Lý đón tôi tại đầu cầu Hưng Lợi. Từ đây xuống nhà anh, An Thới Tây, cũng mấy chục cây số. Tôi, vừa háo hức, vừa lạ lẫm với những cảnh vật miền tây nên cứ hết nhìn bên này, nhìn bên kia, nhìn mãi mà không thấy chán.
Nhà anh Út Lý ở dọc theo bờ sông, cách nhà thờ không xa lắm. Mới bước vào chào hỏi, chị Út Lý đã hỏi tôi:
-        Chú thứ mấy?
-        Dạ thứ tư.
Vậy là từ đó về sau, tôi được gọi là “chú tư”, thật gần gũi và thân mật, còn cái tên “ruột thịt” của tôi, nó đã biến đi đâu mất rồi.
Nhà của anh chị Út Lý khá rộng, hầu như cả ngày chỉ ở nhà dưới thôi, ít lên nhà trên. Thú thật, ở đây, lần đầu tiên tôi thấy con tắc kè, da trắng to hơn con chuột bò trên một góc nhà, nó trông cũng khá dạn dĩ. Vườn nhà anh chị trồng toàn nhãn, mà đang mùa nhãn nên chín khá nhiều.
Anh Út Lý trước cây me cổ thụ trong vườn nhãn

Sông nước miền tây, phía xa kia chỉ là cù lao giữa sông, còn bờ sông xa gấp hai ba lần nữa..
Anh Út Lý rủ tôi qua vườn chơi, một khu vườn khác nằm gần đường lộ, vừa để hái ít nhãn tặng cho các anh chị em Cựu Cô nhi Nha Trang. Khu vườn ở miền tây luôn có những hào đấy nước chung quanh, thật sự khác hẳn ở quê tôi. Vườn nhãn của anh Lý thật rộng, anh thì đi hái, còn tôi thì cứ… ăn thoải mái. Mới đầu thấy thì thèm, nhưng thật ra,, ăn đâu được bao nhiêu, những trái nhãn to tròn, ngọt lịm, thật là một món quà tặng quí báu mà Thiên Chúa dành cho vùng đất này. Tôi vẫn biết, đây không phải là khu vườn rộng nhất, nhưng với hàng trăm cây nhãn đang mùa ra hoa kết trái thì đối với kẻ “quê mùa” như tôi thật là vĩ đại rồi.
Buổi chiều, anh Út Lý định chở tôi lên Cần Thơ chơi, nhưng trời đổ mưa rất lớn nên tôi đành phải ngồi nhà, ngồi ngắm mưa. Cơn mưa rất lớn, và đi qua cũng nhanh, nhưng cũng đủ làm cho cả khu vườn ngập tràn cả nước. Ở đây, vẫn còn một vài nhà lợp bằng lá dừa nước, anh Út Lý nói lợp lá mát lắm, nhưng lợp thưa thì mau hư, còn lợp dày thì sợ chuột làm ổ, mà thật vậy, buổi sáng tôi mới tới, đã thấy một anh tí bò tỉnh bơ trên vách nhà…
Tối hôm đó, anh Út Lý rủ tôi đi nhóm tại nhà một tín hữu gần. Tình cờ, tôi gặp lại Trần Giám, một anh em thông tín viên tại Sóc Trăng. Chúng tôi lại cùng hàn huyên tâm sự về công việc. Anh Giám hồ hởi làm chứng cho tôi nghe về những người bị quỉ ám, được Chúa chữa lành qua lời cầu nguyện của Hội Thánh. Tôi bảo:
-        Vậy thì ông nên viết mấy bài làm chứng đi, hiện nay Bản tin Mục vụ có chuyên mục “Có một người như thế” rồi.
Anh Giám lại bảo:
-        Tôi viết cũng được nhưng mà không hay, anh viết mới hay(?).
Vậy là tự nhiên tôi lại mắc nợ với nơi này, xin hẹn một ngày trở lại, và biết đâu đó cũng là cái cớ để tôi có thể gặp lại anh chị em trong Chúa nhiều hơn, học hỏi được nhiều điều quí báu hơn cho cuộc hành trình theo Chúa của mình.
Sáng hôm chia tay, anh chị Lý đi từ lúc 4g sáng vì phải đến dự lễ Tấn phong Mục sư tại Bến Tre, còn tôi thì 7g mới lên đường về lại thành phố. Tôi vẫn còn nhớ như in câu nói của anh chị trước khi lên đường:
-        Chú Tư ở nhà rồi đi sau nhé, cho gởi lời thăm gia đình.
Cái “chú Tư” ấy sao mà ngọt ngào, tình cảm đến vô cùng. Tự nhiên, không bà con, không họ hàng, chỉ có chút xíu dính dáng thôi: Cựu cô nhi Tin Lành Nha Trang, vậy mà tôi lại được trở nên một thành viên, gần như thật sự, của gia đình anh chị Út Lý. Cũng có thể, đối với những người ở đây, gọi nhau theo thứ tự trong gia đình là lẽ thường tình, nhưng dẫu sao, đối với bản thân tôi, đấy là cái tình cảm thắm thiết và chân chất nhất mà tôi từng gặp.
Những thì giờ cuối cùng ở Sóc Trăng, tôi ngồi uống cà phê cùng người con rễ của anh chị Út Lý. Chuyến xe Hoa Mai đến hơi trễ một chút, cũng không sao, tôi lại có thêm chút thời gian để nhìn ngắm Sóc Trăng, một mảnh đất màu mỡ miền tây mà lần đầu tiên tôi được đến. Ngẫm đi ngẫm lại, tôi chợt nhận ra thế giới này quá bao la, bao la không chỉ về mặt không gian nhưng bởi sự phong phú, đa hình đa dạng, mỗi nơi mỗi khác. Có đi mới biết, và dù có đi nhiều đến đâu thì cũng không thể hết được cái thế giới bao la này. Đúng là kiến thức hữu hạn.
Giã từ Sóc Trăng, con đường thênh thang những dòng sông, phố xá. Và trong lòng tôi cũng mênh mang một nổi nhớ, những tình cảm được sẻ chia tại một vùng quê thật ấm cúng. Cảm ơn Chúa và cảm ơn anh chị Út Lý, đã cho những tháng ngày tuyệt vời tại Sóc Trăng, miền tây đất nước, những tháng ngày không thể nào quên đối với một kẻ hay “lang thang” như tôi và tôi lại ước mong có ngày trở lại An Thới Tây, để được nhìn những dòng sông mênh mông đêm ngày rộn tiếng ghe thuyền qua lại, được dạo chơi trong những khu vườn cây trái xum xuê, và nhất là được gần những con người thật sự dễ thương, dễ mến…
VŨ HƯỚNG DƯƠNG