Chủ Nhật, 15 tháng 9, 2013

CÔ BÉ BÊN CỬA SỔ

CÔ BÉ BÊN CỬA SỔ


          Buổi sáng thật là tuyệt, nhất là vừa trải qua một cuộc hành trình vất vả trên chiếc xe khách cà tàng vào đêm hôm trước, rồi được ngủ một giấc ngon lành để lấy lại sức. Những tia nắng của núi rừng xuyên qua vòm lá xanh, lúc lắc trong từng cơn gió, thỉnh thoảng lại có tiếng chim kêu lanh lảnh, đúng là một không gian yên bình của một ngày hè, ngày hè ở núi rừng.
          Nhận lời với dì Năm thành thử tôi phải lên đường. Mới vừa về nhà chưa được ít ngày thì dì Năm điện xuống, nói với má, nhờ tôi lên trông nhà giúp, dì có việc đi miền trong. Dì còn “quảng cáo” với má tôi là trên đó khí hậu mát mẻ, phong cảnh hữu tình, rất thích hợp với những ai cần thư giãn tinh thần sau một năm học tập vất vả. Nghe nói vậy, má tôi đồng ý ‎cái rẹt, không cho tôi có một lời từ chối nào, dù chỉ là lấy lệ. Không phải vì má không nhớ tôi sau suốt một năm tôi xa nhà, nhưng má muốn cho tôi được thoải mái ít ngày, được đi đây đi đó, cho biết quê hương đất nước… Tôi cũng hiểu vậy nên không phàn nàn gì nữa, dù rằng đã có những cuộc hẹn cùng mấy đứa bạn hồi cấp ba, đến thăm các thầy cô cũ. Thôi thì hè còn dài, vả lại, có mấy khi dì Năm nhờ vả, mà dì với gia đình tôi thì ơn sâu nghĩa nặng, dì xem tôi như con đẻ, lo cho tôi từng li từng tí…

Cái “biệt thự” xanh mà dì đã khoe với gia đình tôi thật ra là một ngôi nhà nhỏ, chỉ có khu vườn là rất đẹp. Ở đây có khoảng chừng hai mươi căn nhà, nhà nào cũng có một khu vườn thênh thang, còn đường thì, nói cho ra vẻ một chút chứ chẳng qua nó chỉ là những mảnh đất trống dành cho lối đi, nhưng rất rộng, có khi đến cả hai chục mét. Chắc sau này nếu có làm đường nhựa thì khỏi lo chuyện giải tỏa, đền bù.
Dì Năm trồng đủ loại hoa trước sân nhà, phía sau là một vườn cây ăn trái, chỉ tiếc là hình như không có trái nào vừa chín tới để đón chào tôi đến thăm. Đi làm suốt ngày, vậy mà dì vẫn dành những thời gian rãnh rỗi để chăm sóc khu vườn. Ban ngày, người thì vào nương rẫy, người đi làm trên thị trấn, đến chiều tối mới thấy thấp thoáng vài ba người lớn đi lại, nói chuyện. Mọi người rất chân tình, gần gũi với nhau. Cuộc sống rất yên bình, không có trộm cắp, xì ke nên tối ngủ có thể không đóng cửa, đi cả ngày mà không sợ mất đồ, thật là lý tưởng… Đó là sau này tôi mới biết chứ ngày đầu tiên thì tôi thấy nó cũng bình thường như những xóm làng khác, chỉ đặc biệt là rất yên tĩnh mà thôi…
Đang ngồi trước sân để “chiêm nghiệm” cuộc sống trôi qua trước mắt mình, thì một chú chó nhỏ không biết từ đâu chạy tới quấn quít lấy tôi. Không hiểu nó thuộc giống chó gì mà nhỏ xíu, chắc dài khoảng hơn một gang tay thôi, nhưng nhìn cái vẻ khôn lanh của nó tôi đoán đây là chó trưởng thành rồi. Nó cứ kêu rít rít, vẫy đuôi, chạy lăn xăn trước mặt tôi. Lúc đầu tôi nghĩ đây là chó của dì Năm, nhưng sực nhớ dì đâu có nuôi.
Bỗng phía bên kia đường có tiếng kêu:
-      Li Li, mi đâu rồi?
Bên kia đường, trong ngôi nhà nhỏ khuất sau cái hàng rào trắng, một cô bé đang chồm ra ngoài cửa sổ kêu. Tôi bồng con chó và đưa lên rồi hỏi:
-      Có phải hắn không?
-      Đúng rồi đó. Anh thả hắn xuống đi. Li Li, đi tìm đi.
Phía bên này, con chó cứ quẫy đuôi và quấn quít lấy chân tôi. Tôi hỏi:
-      Hắn tìm chi rứa?
-      Trái banh.
Tôi nhìn quanh. À, thì ra có một trái banh rớt trong chậu hoa của dì Năm, cái chậu hơi cao hơn so với chiều cao khiêm tốn của con chó nên nó không thể nào với tới được. Tôi hất trái banh xuống đất, Li Li vội chạy lại, gặm lấy trái banh và chạy tót về nhà bên kia.
Tôi đi theo con chó nhỏ qua ngôi nhà bên kia đường. Ngôi nhà cũng từa tựa như nhà của dì Năm, nhưng nằm trên một mô đất cao. Cô bé hàng xóm chỉ khoảng 14, 15 tuổi, đôi mắt tròn và sáng, nước da hơi ngăm đen. Có lẽ con gái ở đây là vậy, tôi thầm nghĩ.
-      Chào anh nghe.
-      Chào.
-      Anh mới tới hồi hôm phải hông?
-      Ờ, mới đi xe lên, răng biết giỏi rứa?
-      Thì hồi hôm em thấy xe đậu trước nhà cô Năm mà.
Chà, cô bé này cũng lanh thiệt. Tôi hỏi qua chuyện khác.
-      Con chó khôn ghê hỉ?
-      Cũng được, nhưng hắn chỉ có một cái trò lượm banh đó thôi, em quăng đâu hắn cũng chạy theo lượm hết.
-      Té ra trái banh hồi nãy là em quăng qua nhà anh?
-      Đúng mà cũng không đúng. Em quăng trúng cái cây, nó văng qua nhà anh đó.
-      Ờ, thì ra rứa. Con chó có vẻ hiền.
-      Dạ. Anh ở chơi lâu hông?
-      Chắc vài ba ngày. Bữa mô dì Năm về, anh về lại dưới nớ.
-      Em có nghe cô Năm nói, rứa anh bà con với cô Năm?
-      Không, nhưng hai gia đình thân nhau lắm, dì coi anh như con ruột.
-      Ờ, cô Năm cũng thương em lắm, coi em như con ruột, rứa là hai đứa mình là hai anh em.
Tôi tức cười với cái câu “hai đứa mình là hai anh em”, con nhỏ này thiệt…
-      Thôi cũng được. Nhưng em phải cho anh biết tên chớ!
-      Anh đoán thử coi.
-      Chịu.
-      Không lẽ lớn như anh mà không đoán được na?
-      Anh mà đoán được thì anh mua một cái gương đen rồi.
-      Chi rứa?
-      Thì đeo vô, ra ngoài chợ làm thầy bói rồi…
Cô bé cười thích chí:
-      Thôi để em nói, tên xấu lắm nghe.
-      Thì nói đi.
-      Hồng Phượng.
Tôi kêu lên:
-      Cái tên chi giống mùa hè ghê rứa.
Cô bé nũng nịu:
-      Thì em đã nói rồi…
Không, tên hay đó, nhưng nghe đến là nhớ mùa hè.
-      Anh không thích mùa hè hở?
-      Thích chớ, ai mà không thích mùa hè, nghỉ học, đi chơi, sướng bắt chết.
-      Rứa tên anh là chi?
-      Vũ.
-      Khiêu Vũ?
-      Làm chi có tên Khiêu Vũ, tên Vũ thôi. Hơi xấu phải không?
Cô bé kênh kênh cái mặt.
-      Cũng tàm tạm.
-      Nhưng chắc hay hơn Hồng Phượng?
-      Á, anh chọc em hoài, em không chơi nữa đâu.
-      Thôi, không chọc nữa. Chừ em giúp anh một việc nghe.
-      Việc chi?
-      Ở đây có cảnh đẹp, chỗ mô đi chơi được, em giới thiệu cho anh với chớ. Ở nhà cũng buồn lắm.
-      Biết bao nhiêu là chỗ đẹp, chỉ sợ anh không đi nổi.
Nói rồi cô bé giới thiệu cho tôi nào là suối Tiên chín tầng, làng Đại Linh nổi tiếng với cây trái miền nam, thác Ồ Ồ… Cô bé còn hướng dẫn cho tôi phải đem theo những gì, nước uống, thức ăn, nghỉ ngơi chỗ nào cho rẻ mà chất lượng… Tôi thầm nghĩ sao cô bé này có vẻ thông thạo quá, giống như một người lớn. Tôi hỏi:
-      Ủa, mấy chỗ ni em đi rồi hả?
-      Đi hết rồi, hè năm mô cả nhà em cũng đi chơi hết.
-      Năm ni có đi không?
Cô bé cười:
-      Năm ni có sự cố, không đi được, nhưng chắc chắn sang năm sẽ đi, có thể đi xa hơn, biết đâu xuống dưới chỗ anh chơi, nếu anh cho phép.
Một lần nữa tôi lại tức cười cho cái từ “nếu anh cho phép”. Nhỏ mà ăn nói như người lớn, ra vẻ nữa chứ.
-      Mà nè, anh có nghĩ là mọi việc xảy đến cho mình là trong ‎ý Chúa hết không?
-      Có chớ. Mình sống theo ý Chúa, Chúa lo liệu cho mình mọi điều.
-      Đúng, em cũng nghĩ rứa, không phải lo chi.
-      Mắc chi lo?
Cô bé im lặng, cười.
Cái nụ cười rất tươi. Nói văn vẻ một tí thì tôi rất rất thích nụ cười này, nó là biểu hiện của một người yêu đời, lạc quan và thanh thản. Tôi lại tự hỏi, sao cô bé lại cười đáng yêu đến thế, và tự trả lời, chắc trong lòng cô bé đang vui. Tự nhiên tôi cũng thấy vui lây với nụ cười đó, trong sáng và rất tự nhiên.
Cô bé cứ ngồi trong nhà, từ cửa sổ chồm ra nói chuyện với tôi, lúc đầu tôi cũng hơi bực mình không hiểu vì sao cô bé không chịu bước ra ngoài cho thoải mái, nhưng rồi tôi cũng quen. Sau này, hễ những lúc nào rảnh rỗi thì tôi lại chạy qua ngôi nhà xinh xắn đó, ngồi trên chiếc ghế đá trước sân nhà trò chuyện với cô bé bên cửa sổ. Chúng tôi dần trở thành hai người bạn thân từ lúc nào cũng chẳng hay, chỉ thấy thời gian trôi rất nhanh…

Nhờ có sự chỉ dẫn của Hồng Phượng mà tôi mới có dịp đi thăm các cảnh đẹp ở đây. Nơi mà tôi thích nhất có lẽ là Suối Tiên, một con suối khá lớn, nằm cách ngôi làng không xa. Suối nước có đến chín tầng, nhưng thường người ta chỉ lên đến tầng thứ ba là cũng đủ mệt nhoài khi leo lên con đường hẹp, dốc, sát bên hông núi. Ngồi bên dòng nước chảy ào ào, tôi thấy thật sảng khoái. Mạch nước dường như vô tận, cứ từ trên cao tuôn xuống. Một vài chiếc lá rơi xuống, rồi vụt trôi theo dòng nước, thoáng đó đã không còn một dấu tích gì. Tất cả không còn gì ngoài dòng chảy của nước, một dòng chảy thật mạnh mẽ từ cội nguồn trên cao, và hình như thời gian không là gì với những con nước ấy, suốt bốn mùa, bao tháng năm đi qua, tôi tin chắc rằng nó vẫn miệt mài trong cuộc hành trình vô tận của mình.


Ngày cuối cùng, Hồng Phượng chỉ cho tôi ngôi nhà thờ bằng gỗ nằm sát chân núi cuối làng. Gọi là cuối làng, nhưng đi vào đó cũng phải hơn chục cây số. Tôi hỏi cô bé sao bây giờ mới chỉ nhà thờ cho tôi. Hồng Phượng cười, thì em giới thiệu cho anh những cảnh đẹp của thế gian rồi, bi chừ là đường đến thiên đàng. Ngôi nhà thờ khá nhỏ, làm toàn bằng gỗ, chứng tỏ hồi xưa nơi đây cây rừng khá nhiều. Giữa núi rừng xanh thẳm, thì cái màu nâu xẩm của ngôi nhà thờ như một điểm nhấn của thời gian, đã mấy mươi năm rồi, nó vẫn tồn tại cùng mưa nắng. Đứng trước ngôi nhà thờ nhỏ bé, tôi có cảm giác như mình đang ở một nơi nào khác, hình như cảnh vật ở đây không hề thay đổi qua bao năm tháng, có chút gì cổ kính mà mộc mạc trong từng cành cây, ngọn cỏ.
Theo lời của thầy truyền đạo quản nhiệm, Hội Thánh đang có kế hoạch xây dựng ngôi nhà thờ mới vì ngôi nhà thờ gỗ này không đủ chỗ ngồi. Tôi hỏi thầy truyền đạo, còn ngôi nhà thờ gỗ, có phá đi không. Ông cho biết vẫn cố gắng giữ lại nó, vì đây không chỉ là một dấu tích lịch sử mà là một kỷ niệm của cha ông một thời rao truyền đạo Chúa trên vùng đất này. Nếu sửa sang lại thì có thể dùng nó để nhóm cầu nguyện mỗi sáng, làm lớp học trường Chúa nhật hoặc phòng nhóm cho các ban ngành…
Thầy truyền đạo bỗng hỏi tôi:
-      Ai chỉ đường cho em đến đây?
-      Dạ, Hồng Phượng.
-      À, cô bé chỗ nhà chị Năm đó hả?
-      Dạ.
-      Hắn là con bé năng động, can đảm nhất mà tôi từng thấy, mà cũng là con bé cứng cỏi, yêu đời đó nghe.
-      Răng rứa thầy?
-      Em có biết bé bị gãy hai chân không?
-      Ủa, bé gãy hai chân hả. Em đâu biết, cũng mới quen có mấy ngày… Tôi ngần ngại trả lời.
Đúng ra là con bé không bị tai nạn. Khi chiếc xe khách lật, con bé bò ra được rồi, tự nhiên nhớ tới trong xe còn hai chị em bạn bị kẹt, hắn chạy tới cứu. Lôi được chị ra rồi, tới tiếp bé em nhỏ thì đồ đạc trên xe đổ xuống, chận hắn gãy hai cái chân, còn con bé nhỏ vẫn bình an vô sự.
-      Rồi sau…
-      Thì sau đó chở vô bệnh viện người ta mổ, bắt vít cả hai chân, không đi được nên ngồi xe lăn cho đến khi nào người ta mổ lấy vít, có thể phải tập đi nạn một thời gian cho cái chân mạnh hẳn.
Rồi thầy chép miệng:
-      Bình thường con bé sôi động lắm, chơi đùa cả ngày. Tuần mô hắn không tới nhà thờ là thấy nhớ hắn. Tội nghiệp, bị như rứa mà hắn vẫn lạc quan, yêu đời, coi như không có chi. Cũng may hắn học giỏi nên nhà trường đặc cách cho lên lớp chớ không thì ở lại lớp, tốn mất một năm.
Tôi yên lặng. Hèn chi mà bao nhiêu lần nói chuyện với Hồng Phượng, chưa một lần nào cô bé bước ra khỏi nhà. Nếu thầy truyền đạo không nói cho tôi, thì có lẽ tôi cứ nghĩ Hồng Phượng hơi kiêu kỳ một chút. Nhưng điều tôi ngạc nhiên là cái thái độ vui vẻ, lạc quan, yêu đời như không có chuyện gì của cô bé. Tôi chắc chắn đức tin của cô bé rất vững vàng, mới vượt qua được thử thách như vậy, chứ nếu là tôi, chắc tôi ủ rủ suốt cả năm vì không được đi lại…
Khi tôi trở về nhà dì Năm thì Hồng Phượng, “cô bé bên cửa sổ”, và gia đinh đã vào thành phố làm phẫu thuật cho em. Chắc rồi cũng sẽ gặp nhau, tôi nhìn qua ngôi nhà phía bên kia đường thầm nói, sẽ gặp sớm thôi. Và cũng cảm ơn cô bé, đã cho tôi một bài học về sự lạc quan yêu đời. Một chuyến đi nghỉ cũng đầy thú vị!


CHIẾC XE ĐẠP CŨ

CHIẾC XE ĐẠP CŨ


Ti Na nói thầm với tôi:
-      Con thấy bên nhà ông nội có chiếc xe đạp cũ lắm, mà răng ông không đi? Hồi mô ba qua mượn về cho con tập được không?

Tôi ngạc nhiên, vì thật tình, dù rằng hay qua nhà ông bà Mục Sư Trà chơi, nhưng cũng không để ý thấy chiếc xe đạp cũ nào. Từ ngày ông bà Mục Sư Trà về đây, “xóm” nhỏ này có vẻ vui hơn. Đối diện bên kia đường là cô Hòa, có thằng cu Bảo cũng trạc tuổi Ti Na, Ta Ni. Lũ trẻ cũng mến ông bà, những lúc rảnh rỗi, chúng thường chạy qua chơi với ông bà, một phần vì vườn rộng, mà cây trái cũng nhiều. một phần vì ông bà rất mến lũ trẻ… Cu Bảo thì cứ “ông ngoại, bà ngoại”, còn Ti Na và Ta Ni thì lúc thì ngoại, lúc thì nội… nhưng điều đó lại làm cho ông bà rất vui vì đã có được những đứa cháu gần thay thế những đứa cháu xa.

Dâng mình hầu việc Chúa từ những năm khó khăn, ông bà Mục sư Trà gắn bó cuộc đời mình với Hội Thánh nhỏ miền quê gần mấy mươi năm, kể từ khi nhà thờ chưa được xây dựng lại. Đến nay, Hội Thánh đã có một ngôi nhà thờ khá khang trang, đó cũng là ơn Chúa ban cho, là những nổ lực không biết mệt mỏi của những người tín đồ vùng quê hết lòng vì Hội Thánh nhà. Không biết từ bao giờ, Hội Thánh đã là gia đình êm ấm của ông bà mục sư, các con dân Chúa như những người anh em, con cháu của ông bà, vui buồn, sướng khổ luôn có nhau.
Chuyện nghỉ hưu của ông bà Mục Sư Trà cũng khá thú vị. Một hôm, khi dự chương trình lễ Khởi công tại một Hội Thánh. Diễn giả là một mục sư khá cao tuổi, có thể nói là niên trưởng trong các Tôi tớ Chúa trong tỉnh. Ông giảng về việc xây dựng nhà thờ mà lại đi từ Sáng thế ký đến Công vụ (chứ chưa đến Khải huyền), làm ai cũng giật mình. Mở đầu, ông nói về những câu chuyện quá khứ, những thăng trầm khi của những ngày đầu thành lập Hội Thánh làm ai cũng cảm động. Rồi ông lại nói đến chuyện Đức Chúa Trời dựng nên trời đất, loài người phạm tội…  Chúa Giê-xu giáng sinh… cuối cùng khi đến ngày lễ Ngũ tuần, Đức Thánh Linh giáng lâm, ông mới vô được nội dung chính của bài giảng: xây dựng nhà thờ cùng lúc phải xây dựng Hội Thánh Chúa. Phần mở đầu của ông chiếm gần ba phần tư thời gian, chỉ còn lại ít phút để nhắc nhỡ con dân Chúa phải cẩn thận trong việc xây dựng, hiệp một lòng yêu thương nhau để làm sáng danh Chúa. Có lẽ cũng đã cao tuổi nên ông nói lúc to, lúc nhỏ, có lúc giống như hụt hơi, nghe không rõ lời…Trời thì nóng, bài giảng thì dài mà không đi vào nội dung chính được, khiến nhiều người không khỏi mệt mỏi. Ông Mục Sư Trà ngồi nghe bài giảng mà sực nhớ đến mình, tuổi đã cao, rồi cũng có ngày ông lại vấp phải những điều như người huynh trưởng đáng kính ấy. Ông nhìn lại cuộc đời hầu việc Chúa của mình, bao năm gian khổ, khó khăn đã qua rồi. Giới trẻ bây giờ được học hành bài bản hơn ông rất nhiều, thông minh, nhanh nhẹn. Cần phải tạo cho họ có điều kiện đi lên. Hiện tại, Hội Thánh của ông có một Truyền Đạo phụ tá, rất hiền lành, chăm chỉ. Ông cần phải nghỉ hưu, để tránh đi cái cảnh mệt mỏi về thể xác lẫn tâm linh mà vẫn còn bám lấy chức vụ, ông biết nếu làm như vậy thì không đẹp lòng Chúa và hoàn toàn không có lợi cho Hội Thánh.
Cái tin ông Mục Sư Trà làm đơn xin nghỉ hưu khiến cả Hội Thánh đều bất ngờ. Có người lại cho rằng ông giận một ai đó, hoặc Truyền Đạo phụ tá có gì mâu thuẫn với ông. Trong giờ thờ phượng của Hội Thánh, ông giải thích rõ ràng cho con dân Chúa hiểu, tuổi ông đã cao, sức khỏe đã mòn, ông cần phải nhường chỗ cho người khác, bởi qua hai năm làm việc cùng nhau, những kinh nghiệm quí báu của một đời hầu việc Chúa ông cũng đã chia sẻ cho phụ tá của mình. Bây giờ, ông tin chắc là Truyền Đạo đó có thể tự quản lý được Hội Thánh cho đến khi có một quyết định mới từ Giáo hội. Và ông cảm ơn Chúa “đã cho ông hạ cánh an toàn”, bởi cuộc đời hầu việc Chúa là một cuộc đời đầy vinh quang, phước hạnh nhưng cũng phải đối diện bao khó khăn, vượt qua bao nhiêu cám dỗ, thử thách… Cảm ơn Chúa, ông vẫn giữ được tấm lòng trung tín với Chúa cho đến những giờ phút cuối cùng của chức vụ. Con cái ông tuy không nối nghiệp cha, nhưng đứa nào cũng có gia đình trong Chúa, một lòng trung tín, góp phần xây dựng Hội Thánh một cách tích cực, vậy là ông đã mãn nguyện rồi, bởi nếu không được Chúa kêu gọi, rất khó hầu việc Chúa kết quả.
Ngôi nhà ông bà ở bây giờ là của người con trai đầu xây dựng đã lâu. Vì công việc làm ăn nên họ đã vào thành phố sinh sống, để lại căn nhà này cho ông bà sinh hoạt trong những ngày nghỉ hưu.

Chiều hôm đó, khi tôi qua thăm ông bà Mục Sư Trà thì một lúc sau, Duyên, Ti Na và Ta Ni cũng qua theo. Hai đứa nhỏ muốn tận mắt thấy chiếc xe đạp của ông bà mà, tôi biết vậy. Khi nghe tôi nói về ý định của Ti Na, ông mục sư cười:
-      Chiếc xe nớ đâu còn đi được, hắn hư hết rồi.
-      Ủa, con thấy ông nội đem lâu lâu lại đem ra lau chùi mà. Ti Na ngạc nhiên nói.
-      Ờ thì lau chùi, nhưng mà đâu có đi. Hắn là kỷ niệm của ông, một thời…
-      A, chiếc xe đạp mà cũng là kỷ niệm, chắc hay lắm ông nội hỉ!
-      Hay lắm chớ răng, nhưng mà đối với ông thôi.
Ông Mục Sư lại kể cho tôi nghe về chiếc xe đạp cũ kỷ này. Hóa ra nó đã đi cùng ông suốt mấy mươi năm rồi. Từ khi có gia đình, hai ông bà dồn hết tiền người ta đi đám cưới, mua được một chiếc xe đạp mới, tốt, để đi hầu việc Chúa. Hồi đó, ông được bổ về một Hội Thánh miền núi, thời kỳ kinh tế khó khăn, con dân Chúa cũng rất nghèo nên việc dâng hiến cũng vô cùng ít ỏi. Ông thấy mình đã nghèo, họ còn nghèo hơn nữa nên không đành nhận lương mà tranh thủ những thời gian rảnh rỗi để làm ruộng, tự nuôi sống gia đình. Đã dâng mình hầu việc Chúa, ông biết việc làm như vậy cũng ảnh hưởng đến chức vụ, nhưng không còn cách nào khác, ông cầu xin Chúa tha tội cho mình, xin Chúa ban phước cho con dân Chúa tại đây có đời sống dần ổn định, dâng hiến rời rộng để ông có thể toàn tâm toàn tâm toàn ý mà phục sự Ngài. Vậy mà phải mất đến gần hai mươi năm sau nền tự trị của Hội Thánh mới gọi là tạm ổn, ông mới dám nhận lương, dù rằng không nhiều lắm. Hồi đó thì hầu như tất cả các mục sư, truyền đạo đều lâm vào hoàn cảnh như vậy, trừ một số ít ở thành phố…
Chiếc xe đạp đã theo ông đi khá nhiều nơi, núi rừng, biển cả. Không những thăm tín hữu, ông cũng dùng nó để cùng các anh em trong Ban Chứng đạo ra đi, dắt đưa rất nhiều người trở lại cùng Chúa. Bây giờ nó chỉ là một phế phẩm, vâng, phế phẩm theo đúng nghĩa. Nhưng những vết tích của nó là kỷ niệm một thời không thể nào quên của người Tôi tớ Chúa. Những lần xe hư phải dắt bộ hàng cây số mới có người sửa, thậm chí có khi ông còn phải vác nó trên vai khi qua những bãi cát trắng hoặc trên con đường đầy bùn lầy. Thời kỳ ấy khó khăn nhưng rất đẹp, bây giờ kể lại, chỉ có những người cùng thời với ông mới hiểu hết được. Chiếc sên xe (bây giờ người ta gọi là xích) được lật đi lật lại vài lần cho đến khi không thể đạp nổi. Ruột thì vá nhiều cho đến khi không còn chỗ để vá. Lốp xe thì may hết cả vành. Thậm chí cả dĩa xe, líp xe, con cóc cũng được tái chế lại rất nhiều lần… Vậy mà cũng vượt qua được một thời bôn ba, cái thời nghèo khó mà đầy vinh quang và phước hạnh. Nhiều hôm lên tòa giảng mà cái bụng đói meo, nhưng vào bài giảng thì ông hình như quên đi tất cả. Đến trưa, hai vợ chồng cùng thưởng thức bữa ăn đạm bạc chỉ toàn khoai xiêm chấm muối, vậy mà vẫn ngon, vẫn ngon.
Ông Mục Sư Trà kể rất nhiều khiến tôi chạnh lòng. Cái thời của chúng tôi tuy cũng gian khổ nhưng so với ông, chúng tôi còn sướng gấp mấy lần, còn Ti Na và Ta Ni chắc cũng không thể hình dung được những gì ông trải qua, phần vì chúng còn quá nhỏ phần vì cái thời của chúng, mới sinh ra là đã thấy xe máy, xe hơi… Mục Sư Trà hỏi tôi, con biết tại sao ông bà gìn giữ cái xe này không? Kỷ niệm cũng có, mà là nguồn động viên cũng có. Thời gian nghỉ hưu, về sinh hoạt với Hội Thánh như một tín hữu, ông bà lại tìm cho mình niềm vui mới trong những tháng ngày tuổi già: đi làm chứng. Tuy không ở trong Ban Chứng đạo của Hội Thánh, nhưng ông bà mục sư rất tích cực ra đi làm chứng cho thân hữu. Hằng ngày, trên hai ông bà thường chở nhau trên chiếc xe máy về các vùng nông thôn, vừa đi thăm bà con, người thân cũ, vừa làm chứng cho đồng bào. Khi được, khi không, khi nhiều, khi ít, nhưng ông bà luôn bền lòng với công tác của mình, góp một phần nhỏ vào công cuộc rao truyền phúc âm của Hội Thánh. Tuy vậy, cũng có những ngày trái gió trở trời, khi thì bà đau, khi thì ông mệt, hai ông bà lại ở nhà cùng cầu nguyện cho Hội Thánh, cho mọi người… xem như đó là niềm vui của những ngày tuổi hưu. Ông giữ lại chiếc xe đạp là có lý do, nó như là người bạn đường của ông bà trong suốt bao năm nay, không hề nghỉ ngơi cho đến khi không còn sử dụng được nữa. Những lúc không thành công, mệt mỏi, mà còn gặp nhiều khó khăn, thử thách, ông bà lại ngồi bên chiếc xe đạp, ôn lại những kỷ niệm xưa, rồi lại tự động viên mình. Hồi trước khó khăn đến vậy, chỉ với chiếc xe đạp cà tàng, hai ông bà đã đi được khắp nơi, vượt bao dặm đường, đem Tin Lành đến cho biết bao người. Sự khó khăn ngày hôm nay là xá gì. Rồi cả hai cùng cầu nguyện, và hôm sau lại hăng hái lên đường. Chiếc xe đạp cũ như một điểm tựa cho ông bà trên bước đường hầu việc Chúa những tháng năm này, và có lẽ sẽ là mãi mãi cho đến khi nào Chúa gọi.

Tôi nói Ti Na:
-      Chiếc xe đạp của ông nội là chiếc xe đạp quí giá lắm con biết không?
Ti Na nhìn tôi ngơ ngác, nó không hiểu tôi nói thật hay nói đùa.
-      Thiệt hở ba?
Ờ thiệt chớ. Nó đã theo ông bà suốt bao nhiêu năm như là một người bạn. Chừ hắn hư rồi, không đi được nữa đâu, nhưng mỗi khi ông bà nhớ lại hồi xưa, nhớ bạn bè, người thân thì ông bà đem hắn ra lai chùi. Với chiếc xe đạp cũ như rứa mà ông bà đã làm được bao nhiêu việc cho Chúa đó, con biết không?
-      Ba mua cho con chiếc xe đạp, rồi con cũng giống như ông nội được không?
Duyên nói:
-      Con tưởng làm như ông bà nội dễ lắm hả?
-      Thì con sẽ cố gắng, biết đâu, sau ni con làm mục sư…
Mục Sư Trà cười:
-      Cái con thiệt, thôi, để đó rồi ông nội nói với ba má mua cho con chiếc xe đạp…

Chắc rồi chúng tôi cũng sẽ mua cho Ti Na một chiếc xe đạp, trước mắt là để cho hai chị em đi học, đi nhà thờ. Hy vọng chiếc xe đó sẽ là người bạn theo Ti Na qua nhiều năm tháng. Rồi biết đâu sau này, khi lớn lên, mỗi khi có chuyện, nó lại ngồi bên chiếc xe đạp cũ, nhớ lại ngày xưa, nhớ lại những năm tháng sống trong tình yêu thương gia đình, trong sự bảo bọc che chở của Thiên Chúa. Những vui buồn đầy ắp một thời sẽ lại về bên nó như một bài ca vĩnh cửu của Tình yêu, Tình yêu tuyệt đẹp của cuộc đời có Chúa, và chính bài ca ấy sẽ là hành trang lên đường của mỗi người, giúp chúng ta vượt qua biết bao gian khó trên bước đường hầu việc Chúa.
Có lẽ mỗi người nên có một chiếc xe đạp cũ chăng?


MỘT ĐÁM CƯỚI

MỘT ĐÁM CƯỚI

Chú Liêu hỏi:
-      Chừ con tính ra răng?
-      Có chi đâu chú, ý kiến của hai “ông bà” nớ răng?
-      Thì hắn cũng nói tổ chức tiệc mà không có bia rượu.
-      Còn chú?
-      Chú cũng không biết răng nữa. Ở đây hồi mô tới chừ, ai cũng tổ chức rứa hết. Chừ mình làm khác là họ chửi ngay, cả mấy nhà tín đồ làm đám cưới trước cũng rứa, cũng đãi rầm rầm…
-      Chú cũng thông cảm cho họ, họ không biết mình tin Chúa nên họ nói.
-      Họ biết chớ, họ nói răng mấy ông kia cũng Tin Lành mà làm được còn ông lại làm khác đi.
Tôi cười:
-      Cũng khó he. Nhưng mình tin Chúa, có đức tin, cứ theo đó mà làm, cái chi không đẹp lòng Chúa, dù thế gian có nói chi, mình cũng không làm. Khi uống vô rồi, thì không biết ai làm chủ ai, rồi cụng ly, bắt ép, thách đố nhau… con thấy đó là điều không tốt.
-      Chú dù răng nữa cũng mới tin Chúa, thôi, trăm sự nhờ con, con quyết răng, chú theo rứa.
-      Răng được, chú là chủ nhà, chú quyết chớ. Chú tổ chức rứa là đẹp lòng Chúa, Lâm với Sang cũng ưng ý nề, rồi biết đâu mình sẽ là tạo một cái nề nếp tốt cho những người sau ni. Con nghĩ người ta nói kệ họ, mình giữ đức tin của mình chớ… Con có đem theo cuốn “Nếp sống đạo của Cơ Đốc nhân”, Ti Na hắn nhận phần thưởng đố Kinh Thánh trong Bản tin Mục vụ chú nợ. Chú coi tham khảo thêm nghe.
-      Ờ, để chú đọc thử ra răng.

Tôi cũng hiểu được nổi lo lắng của chú Liêu, mới tin Chúa được mấy năm. Điều vui nhất là cả nhà, cô chú và ba người con gái đều tin Chúa sốt sắng. Cô con gái đầu, đi vào làm ăn trong Sài Gòn, gặp được một anh đồng hương, và hai người quyết định đi đến hôn nhân. Việc tổ chức đám cưới rất thuận lợi vì hai bên gia đình đều là còn con dân Chúa cả. Chỉ có chuyện đãi tiệc làm chú phân vân. Ở vùng quê này là vậy, hễ đãi tiệc là phải có rượu, bia… nếu không thì sẽ bị bà con, hàng xóm chê cười, thậm chí còn chửi rủa. Kể cũng lạ, người ta mời mình đến, đãi tiệc cho ăn rồi mà lại chửi người ta. Cái truyền thống này ảnh hưởng sâu đậm đến nếp sống của mọi người ở đây, thành thử trước chú Liêu, có mấy người trong Hội Thánh cũng tổ chức tiệc cưới cho con, tuy không có rượu nhưng cũng phải có bia cho người ta uống…, lâu ngày thành thói quen, thành thử chú cũng rất khó xử. Phần mình chỉ là hàng con, hàng cháu trong tộc họ, lại không phải khá giả gì để người ta phải nể, mà là người mới tin Chúa nữa, nên chú lo lắng cũng phải. Làm không khéo, cưới xong, hai đứa nhỏ đi rồi, ở nhà cô chú lại “chịu trận” thì cũng khổ. Nói vậy thì nói nhưng với tấm lòng yêu mến Chúa, dù hiểu biết còn đơn sơ nhưng chú cũng không muốn “làm theo đời này” chút nào. Chính vì vậy, chú tham khảo ý kiến của tôi, dù rằng tôi cũng chỉ là “tín đồ chay” như chú thôi. Tôi biết ý chú, chú không hỏi ý kiến mấy người trong Ban Trị sự vì chú đã thấy họ uống bia trong các đám tiệc cưới, đám cưới con ông Mục Sư, lại đãi bia tấp nập, làm một số người có ý kiến này nọ. Thôi, tất cả trông cậy vào ý Chúa, vì thế chú lại bàn với tôi, vì dù sao trước đây tôi cũng từng dạy các con chú…
-      Thôi, chừ gút lại, mình cứ làm theo ý mình, nhưng chú nhớ cầu nguyện nhiều vô nghe, con nghĩ Chúa sẽ ban phước cho đám cưới hai em, và mọi chuyện sẽ tốt đẹp thôi.
-      Ờ, rứa đi. Mai hai đứa hắn về, chú cũng thống nhất như rứa đó. Nói để cho tụi hắn lo chớ.

Lâm và Sang lại nhờ tôi hướng dẫn chương trình tiệc cưới hôm đó, tôi cũng không hiểu sao mình lại có “uy” như vậy. Thôi thì cũng nhận cho vui, vừa để cho gia đình yên tâm. Còn ba mẹ con Duyên rất phấn khởi khi được làm phó nhòm, cầm chiếc máy ảnh du lịch Canon đi qua đi lại chụp mấy pô hình làm kỷ niệm. Nhìn lại cuộc đời của Lâm, tôi thấy chương trình của Chúa thật kỳ diệu. Không ai nghĩ một cô bé học trò của tôi ngày nào, bây giờ lại là một giáo viên Trường Chúa nhật xuất sắc ở một Hội Thánh trong thành phố. Hồi còn ở quê, Lâm rất nhút nhát. Hình như vào một môi trường mới, em tiến bộ rất nhanh. Có lẽ nhờ hết lòng yêu mến Chúa, phục sự Ngài mà Lâm nhanh chóng hòa nhập với Hội Thánh mới, và tham gia sinh hoạt tốt. Điều tôi vui mừng nhất là em có gia đình với Sang. Gia đình Sang là một gia đình có truyền thống đức tin tại một Hội Thánh trong tỉnh, Sang mồ côi sớm nên hoàn cảnh cũng rất khó khăn. Nói chung, gia đình hai bên đều không khá giả gì, nhưng đức tin rất tốt. Đó cũng là một ơn phước lớn mà Chúa ban cho gia đình cô chú Liêu rồi.

Sau đám cưới, khoảng nửa tháng sau, có dịp đi ngang, tôi và Duyên ghé vào thăm nhà chú Liêu. Có cả Diễm và Phương ở nhà. Duyên hỏi vui:
-      Chú có bị “dính chưởng” hông?
Chú Liêu cười:
-      Có, nhưng không răng. Nhiều người khen lắm. Họ khen mình đãi ngon vì mình lấy cái tiền đãi bia nớ tăng thêm tiền ăn cho họ. Nè, chú nói cái ni vui lắm.
Tôi hỏi:
-      Chi rứa chú?
-      Trong bữa tiệc, có người phàn nàn về chuyện không có bia rượu đó, liền bị ông Sáu Cần la cho một trận.
-      Rứa hả? Ổng là tín đồ hở chú?
-      Không, người ngoại mà. Ổng nói, mình tới ăn tiệc, người ta đãi chi mình ăn nấy, còn đòi hỏi chi nữa. Mà người ta trọng mình họ mới đãi ngon lành như ri, không phải đám mô cũng ăn được như ri đâu. Còn ưng uống thì về nhà mua mà uống, tới chỗ ni, phải tôn trọng chủ nhà. Rồi ổng còn đòi đánh cái thằng nớ nữa chớ, may mà có mấy người can…
Tôi và Duyên cười:
-      Hèn chi bữa nớ con thấy có mấy người cãi nhau ở cái bàn trong góc mà không biết chuyện chi. Rứa là chúc mừng chú, chưa cần mình lên tiếng, để cho người ta nói rứa hay hơn. Chú thấy ý Chúa tốt đẹp hông?
Chú Liêu tủm tỉm cười, tỏ vẻ sung sướng.
Duyên nói:
-      Thôi, xong một đám rồi, còn phải lo chuẩn bị tiếp đi chớ chú.
-      Chuẩn bị cái chi?
-      Còn hai cô nữa, chuẩn bị đi là vừa
Diễm nghe nói vậy, la lên:
-      Em chưa có chi hết mà, chị ni thiệt…
-      Rồi cũng sẽ tới mà, lo chi…
Cả nhà cùng cười.
Tôi cũng được biết, đám cưới này, nhiều người thông cảm được hoàn cảnh gia đình hai bên nên họ đi quà mừng khá chu đáo, vì vậy cô chú Liêu cũng không lo gì về vấn đề tiền bạc. Tất nhiên chú rất vui. Sao không vui được khi tất cả mọi sự lo lắng đều được Chúa giải tỏa một cách tốt đẹp, và điều quan trọng hơn là chú đã bày tỏ được đức tin của mình trước mọi người một cách rõ ràng. Hãy bước đi trong đức tin. Tôi lại nhớ đến câu Kinh Thánh: “Đừng làm theo đời nầy, nhưng hãy biến hóa bởi sự đổi mới của tâm thần mình, để thử cho biết ý muốn tốt lành, đẹp lòng và trọn vẹn của Đức Chúa Trời là thể nào.” (Rôma 12:2); “Hãy bước đi cách hẳn hoi như giữa ban ngày. Chớ nộp mình vào sự quá độ và say sưa, buông tuồng và bậy bạ, rầy rà và ghen ghét; nhưng hãy mặc lấy Đức Chúa Giê-xu Christ, chớ chăm nom về xác thịt mà làm cho phỉ lòng dục nó”. (Rôma 13: 13-14). Đúng vậy, người có Chúa, đừng làm theo đời này, hãy bước đi cách hẳn hoi. Cảm ơn Chúa vô cùng. Chúc mừng hạnh phúc hai em Lâm và Sang.

Thứ Sáu, 21 tháng 6, 2013

ĐI TÌM MỘT ĐỊNH HƯỚNG…

ĐI TÌM MỘT ĐỊNH HƯỚNG…


Ngày 17/05/2013
(bài viết nhân kỷ niệm 60 năm thành lập Cô nhi viên Tin Lành Nha Trang: 1953-2013)

 

 

        Sau lễ tưởng niệm 70 năm trận đánh Trân Châu Cảng, ngày 7/12/2011, Hội những chiến binh sống sót sau trận Trân Châu Cảng đã tự giải thể vào ngày 31/12/2011. Nguyên nhân một phần do tuổi tác, bởi từ con số 28.000 hội viên ngày đầu thành lập (1948), thì đến năm 2011, chỉ còn lại 2.700 người, đa số họ đã trên 90 tuổi. Một nguyên nhân nữa. những khoảnh khắc ác liệt của cuộc chiến ấy không còn ai biết đến, ngoại trừ những nhà sử học, cuộc sống đã xóa dần những dấu vết khổ đau của chiến tranh…
Câu chuyện khác, một số người bạn của chúng tôi đã thành lập một Hội Cựu học sinh, cũng có tổ chức thăm viếng, cũng tạo website để đăng tin…Nói chung là rất khí thế. Nhưng nhìn đi nhìn lại chỉ toàn là những cuộc gặp mặt vui vẻ, ôn lại chuyện xưa… và chấm hết.
Gặp mặt, ôn lại kỷ niệm, là một điều đáng quí, bởi cuộc sống hôm nay phải bước đi từ ngôi nhà quá khứ, không trân trọng quá khứ thì giống như chúng ta là kẻ lạc loài trong chính tâm hồn mình. Trân trọng kỷ niệm chính là trân trọng những người đã gắng bó, cưu mang, nuôi dưỡng, dạy dỗ cho mình. Chỉ có những người không có trái tim mới quên đi quá khứ mà mặc nhiên bước đi vào tương lai như một kẻ vô hồn. Chính vì vậy mà mới có câu ngạn ngữ: “Nếu anh bắn vào quá khứ bằng một phát súng lục, thì tương lai sẽ bắn anh bằng một phát đại bác”, nhân quả là vậy. Nhưng kỷ niệm dù đẹp đến mấy, thì nó cũng có một giới hạn nhất định, nói mãi rồi nó cũng trở thành những câu chuyện bình thường như bao câu chuyện khác, và quá khứ chỉ đẹp khi chúng ta biết viết tiếp những kỷ niệm ngày qua bằng công việc hiện tại.
Cuộc sống là một dòng chảy, một dòng chảy không ngừng với bao nhiêu khúc khuỷu, quanh co, thăng trầm… Chính những điều đó làm cho nó thi vị và đáng yêu. Bên cạnh chúng ta hôm nay, vẫn còn khá nhiều các em nhỏ có hoàn cảnh bất hạnh giống như chúng ta ngày trước. Tuy hiểm họa của chiến tranh không còn, nhưng đâu phải chỉ một mình chiến tranh mới có thể tạo ra những hoàn cảnh đáng thương, con mất cha, mất mẹ hoặc mất cả hai, không có người thân, không nơi nương tựa. Ở mỗi vùng miền, mỗi địa phương, mỗi Chi hội chúng ta đang sinh hoạt, đều có những em cô nhi đang ngày đêm đối diện với bao khó khăn, đây chính là hình ảnh của chúng ta trong những ngày xa vắng ấy. Có thể các em là con của tín hữu, có thể các em chưa một lần biết đến Chúa, nhưng sao chúng ta lại định ra một ranh giới cho các em, bởi “Tình yêu thương hay nhịn nhục; tình yêu thương hay nhân từ; tình yêu thương chẳng ghen tị, chẳng khoe mình, chẳng lên mình kiêu ngạo”; “Nên bây giờ còn có ba điều nầy: Đức tin, sự trông cậy, tình yêu thương; nhưng điều trọng hơn trong ba điều đó là tình yêu thương” (I Côr 13: 4, 13). Nếu chúng ta là những người biết ơn Chúa, nhớ ơn các bậc tiền nhân, xin hãy nhẹ lòng đến với các em, làm những việc cần làm, xem như bước tiếp con đường mà các bậc cha anh đã làm cho chúng ta, và hôm nay chúng ta lại làm cho các em, những hình bóng của bản thân chúng ta ngày trước.
            Hiện nay đã có một số anh chị cô nhi, rải rác một số nơi đã thực hiện được việc này, tuy nhiên, cần phải tổ chức lại cho hệ thống, có sự chung tay góp sức từ nhiều nơi, nhiều nguồn thì mới có được một kết quả khả quan.
Theo tôi, việc các anh chị em cựu cô nhi có một chương trình để giúp đỡ các em cô nhi hiện nay có mấy điều tốt:
-          Đây là việc làm để bày tỏ lòng biết ơn Chúa, biết ơn tiền nhân.
-          Đây là cơ hội để chúng ta bày tỏ tình yêu của Chúa cho những linh hồn chưa biết đến Chúa một cách cụ thể
-          Về mặt tổ chức, đây chính là hoạt động để duy trì sự sống còn của đoàn Cựu Cô nhi, bởi nếu chúng ta chỉ thăm viếng nhau trong phạm vi các anh chị em cựu cô nhi, thì tác dụng của nó cũng chỉ ở trong một phạm vi hẹp. Có thể hình dung, một Hội Thánh làm việc thiện cho các tín hữu và một Hội Thánh làm việc thiện cho tín hữu lẫn đồng bào, quí vị thấy Hội Thánh nào có tình yêu thương hơn?
Nếu các anh chị em cựu cô nhi làm được việc này thì sự họp mặt của chúng ta ngày càng có ý nghĩa, không chỉ gói gọn trong việc bao nhiêu người có con đám cưới, bao nhiêu người đau ốm, bao nhiêu người đã ra đi… mà còn có cơ hội tổng kết được các việc chúng ta đã làm, mở được bao nhiêu điểm nuôi trẻ mồ côi, thăm được bao nhiêu gia đình trẻ mồ côi, hỗ trợ được bao nhiêu suất học bỗng cho các em, bao nhiêu em đã thật sự gặp Chúa và đang hầu việc Chúa sốt sắng…  Và mỗi năm, số lượng này càng được tăng lên, các em cô nhi mới lại được có cơ hội nhìn thấy được những tấm gương Yêu thương của các bậc cha chú đi trước. Tôi nghĩ nếu gieo hôm nay, chắc chắn sẽ có ngày gặt hái. Một định hướng cho tương lai rất cần để có sự kết nối, phát triển cho những hoạt động của đoàn Cô nhi Tin Lành Nha Trang.

Biết ơn Chúa, biết ơn tiền nhân, không để cho những nổ lực của các bậc đi trước hao mòn theo năm tháng, thiết nghĩ, các anh chị em cựu cô nhi sẽ có những việc làm thiết thực, thể hiện cụ thể lòng biết ơn ấy, để mỗi ngày trôi qua, có thêm nhiều em cô nhi được quan tâm, chăm sóc và được biết về Chúa, giống như chúng ta ngày trước. Mong rằng, những cuộc gặp mặt các anh chị em cựu cô nhi ngày càng vui, càng phước hạnh và có ý nghĩa.

Thứ Tư, 20 tháng 2, 2013

BÀI CA RỘNG MỞ


BÀI CA RỘNG MỞ


Rộng mở một ngày đời dài hơn nữa
Lịch cũ sang trang đón nắng tươi hồng
Gió ân nghĩa ấm nồng cuộc sống
Dẫn dắt ta đi trên vạn dặm đường

Rộng mở niềm tin soi rạng đêm trường
Sỏi đá, chông gai không ngại bàn chân
Ta lại đứng lên dẫu vấp ngã trăm lần
Hoa vẫn nở và sắc màu vẫn đẹp

Rộng mở cửa lòng cho đời ta bớt hẹp
Dẫu cô đơn khi đứng giữa bao người
Thấy mình nghèo cũng rộn niềm vui
Bước thời gian không ngăn ngày xán lạn

Rộng mở mắt nhìn đâu cũng là bè bạn
Dây Yêu thương nối kết mọi người
Ngày nối ngày trọn những niềm vui
Hoa nở trên môi mắt nhỏ lệ cười

Rộng mở bước chân đi không mòn mỏi
Rộng mở bàn tay địa cầu bé lại
Rộng mở trái tim yêu nhau mãi mãi
Rộng mở linh hồn phước hạnh vô biên

(Những ngày đầu năm 2011)