Thứ Tư, 20 tháng 2, 2013

KHOẢNG LẶNG CỦA MÙA XUÂN


KHOẢNG LẶNG CỦA MÙA XUÂN

Thời tiết thật trong lành, nhất là khi ở trên cao. Vạt nắng vàng chảy dài theo bãi cỏ ven đường như một nét cọ tươi tắn tô điểm thêm cho buổi sáng sớm mùa xuân vốn đã có khá nhiều sắc màu. Màu vàng nhè nhẹ của những bông hoa cải, màu xanh tươi mới của cỏ non còn rung rinh trong gió sớm cùng hạt sương mai, màu đỏ của những bông hoa mào gà nhà ai còn ngái ngủ… Hai bên con đường thỉnh thoảng có một vài căn nhà nhỏ, im lìm, thinh lặng. Có lẽ giờ này người ta đã ra đồng đi làm hết rồi. Quang cảnh thật yên bình với tiếng lúc túc của mấy con gà trước sân, quả thật, đã khá lâu rồi tôi mới có được cái cảm giác sống trong một không khí miền quê như vậy, bình thản, giản dị mà như vẫn ẩn chứa một điều gì kỳ diệu ở trong từng gốc cây, ngọn cỏ. Thỉnh thoảng tôi cũng gặp vài ba đứa trẻ đang chơi trước sân nhà, nhìn cái vẻ lam lũ dễ thương của chúng, tôi cũng thấy thích thích, cái hồn nhiên ngây thơ trong từng ánh mắt nụ cười ấy có lẽ là món quà tặng quí báu nhất của Thiên Chúa mà ai cũng có thể nhận lấy, tuy rằng vẫn còn có nhiều người không biết được nó. Hai đứa nhỏ vòng tay, chào thầy, chào cô, làm Gắng ngượng ngùng. Ô, cái nét dễ thương lễ phép đó không dễ gì gặp được ở những nơi khác. Thật tình tôi rất vui và thầm cám ơn những người thầy, người cô của các em đã tận tình dạy dỗ để các em có thể giữ được một nét đẹp lễ giáo này.
Con đường lên suối La Nga như dài ra khi cứ uốn mình quanh quẩn đâu đây trong những vòm lá xanh biếc của núi rừng, nhìn thì thấy gần mà đi hoài chẳng tới nơi. Nói thì nói vậy chứ chắc là do tôi sốt ruột chứ đường thì làm gì có thể dài thêm được một chút nào. Gắng cứ nhìn tôi cười mãi, bạn hỏi tôi, nóng ruột rồi phải không. Tôi cười nói rằng đâu có, nhưng thật tình cũng muốn mau đến nơi cho rồi. Cuối cùng khu nhà Xuân Thanh cũng hiện ra trước mắt chúng tôi.
Đúng như lời Gắng nói, gia đình Xuân Thanh đã chuyển đi. Trên khu đất trước đây từng có căn nhà nhỏ của bạn tôi, bây giờ chỉ là một đám hoa dại, chắc là những hậu duệ của vườn hoa Xuân Thanh trồng năm nào. Bức tường ghi tên tôi cũng không còn nữa, nhưng làm sao tôi quên được lần đâu tiên đến đây, nhìn thấy tên mình được viết trên bức tường xanh rêu qua năm tháng làm tôi xúc động vô cùng. Tôi hỏi bạn:
-         Sao dám viết tên mình lên trên nớ?
Xuân Thanh cười:
-         Ủa, cái nớ là tên của Vũ hả, té ra có người trùng tên, hay ghê.
Tháng năm và nỗi nhớ, cám ơn Xuân Thanh đã dành cho tôi những tình cảm tốt đẹp dù rằng đã quá lâu rồi, chúng tôi không gặp lại nhau. Con suối La Nga chảy qua phía sau nhà Xuân Thanh như một nhân chứng của thời gian, đã lâu rồi mà chẳng chút đổi thay. Tôi hỏi Gắng:
-         Gắng thấy con suối thở chưa?
-         Chưa? Răng Vũ biết?
-         Thì mình phải biết chớ. Ri nghe, hồi mô nước xuống tức là nó hít vô, còn nước lên là nó thở ra, hô hấp như người ta rứa.
Gắng cười:
-         Cái nớ Gắng biết hồi lâu lắc. Xuân Thanh nói với Vũ phải không?
Tôi gật đầu. Gắng chép miệng:
-         Cái con thiệt. Cái nớ là bí mật của hai đứa mình đó, rứa mà hắn nói cho Vũ, hết bí mật rồi, thôi không chơi với hai người nữa đâu.
Tôi vô tình nói:
-         Thì chừ còn đâu hai người nữa mà chơi.
Gắng gật đầu, im lặng, có lẽ là nhớ đến Xuân Thanh. Thấy bạn im lặng, tôi biết bạn buồn, ờ mà thật ra tôi cũng nhớ Xuân Thanh có kém gì.
Hồi xưa, ở Bình La có nhiều gia đình tin Chúa lắm. Sau này, kinh tế khó khăn nên họ đều đi làm ăn nơi khác chỉ còn lại một gia đình Xuân Thanh. Nghe nói ông nội Xuân Thanh trước đây còn là Truyền Đạo nữa, nhưng đã mất trong chiến tranh. Ba Xuân Thanh như được tiếp nối bởi truyền thống gia đình tin kính Chúa nên dù chỉ còn lại một mình, vẫn giữ vững đức tin. Không những vậy, những năm sau này, ông còn đi làm chứng cho nhiều người khác đến với Chúa trong đó có gia đình của Gắng. Thời gian đáng nhớ nhất có lẽ là lúc điểm nhóm được thành lập, dù chỉ có được năm, sáu gia đình và không có người chăn bầy, nhưng tất cả đều trung tín giữ sự nhóm lại đều đặn.
Sau khi ba mất vì bạo bệnh, kinh tế gia đình Xuân Thanh rất khó khăn. Mẹ và chị Xuân Liên sức khỏe yếu nên chỉ làm những việc vặt trong nhà. Lúc đó Xuân Thanh mới học xong năm thứ nhất. Chuyến nghỉ hè đầu tiên của bạn cũng là chuyến nghỉ hè cuối cùng của đời sinh viên. Lúc đó, tuy chúng tôi không học cùng trường với nhau nhưng lại quen nhau qua các buổi nhóm sinh viên. Xuân Thanh hiền lành, dễ thương, còn Gắng thì nhanh nhẹn, vui vẻ. Hai người hình như trái ngược nhau về tính nết cũng như ngoại hình, nhưng không hiểu sao lại thân tình với nhau như vậy. Sau này, khi quen nhau, tôi mới hiểu rằng trong mối quan hệ bạn bè này, Gắng rất biết ơn gia đình Xuân Thanh vì nhờ có họ mà Gắng và cả nhà mới biết đến Chúa, ba của Gắng trước khi tin Chúa là một người rất vô tín, ông là người làm nghề thầy cúng cho cả làng…
Sau kỳ nghỉ hè năm thứ nhất, Xuân Thanh về quê, rồi ba qua đời. Do hoàn cảnh gia đình, bạn quyết định từ bỏ ước mơ làm cô giáo của mình để ở nhà lo cho mẹ và chị. Tôi chỉ biết được tin khi nghe Gắng nói, lúc đó đã vào năm học nên đành chịu, không thể về thăm Xuân Thanh được. Mãi đến dịp tết, tranh thủ thời gian, tôi lặn lội lên Bình La thăm bạn. Lúc đó mới biết nhà Gắng nằm ngay chợ Vĩnh Huy, một cái chợ quê nhỏ nhưng lại có cái tên rất dễ thương. Gặp Gắng, tôi rất vui, Gắng chỉ giúp cho tôi đường lên nhà bạn. Hóa ra nhà Xuân Thanh nằm tít trên đồi cao, phía sau là một con suối nhỏ, nhưng rất đẹp. Mới bước vào nhà, may mắn tôi đã gặp Xuân Thanh ngồi chẻ củi phía trước sân. Thấy tôi, bạn rất ngỡ ngàng, chạy vội vào nhà, một lúc sau, cả mẹ và chị Xuân Liên cùng xuất hiện. Tôi hỏi vui:
-         Hồi nãy làm chi rứa?
-         Thì đang làm tiều phu chứ chi.
-         Ờ, rứa thì bữa ni sắp tới kêu là tiều phu nghe!
-         Ờ cũng được.
Cả hai chúng tôi cùng cười, chị và mẹ Xuân Thanh cũng cười theo nhưng hình như rươm rướm nước mắt. Bạn dẫn tôi ra thăm con suối La Nga phía sau nhà. Từ trong vách núi một dòng nước trắng xóa cứ tuôn trào ra, chắc mạch nguồn của nó cũng ở trên cao lắm. Nghe tôi hỏi, Xuân Thanh nói con suối này ở xa lắm, tuy ở đây lâu rồi nhưng Xuân Thanh vẫn chưa một lần lên đến nơi. Điều đặc biệt là con suối La Nga có thêm hai mạch nước nhỏ cùng tụ họp nên ở đây giống như một cuộc hội ngộ của những người bạn, rồi tất cả lại cùng rủ nhau chảy về cánh đồng dưới chân núi kia, đem lại những mùa màng tươi tốt. Xuân Thanh chỉ dòng suối lớn ở giữa hỏi tôi:
-         Vũ biết con suối nớ tên chi không?
-         Thì La Nga chớ chi.
-         Không, La Nga là tên chung khi chúng gặp nhau, còn cái ni là tên riêng.
Tôi lắc đầu:
-         Tên Xuân Thanh đó. Bạn trả lời trong tiếng cười thích thú.
-         Rứa còn con suối kia?
-         Tên Gắng.
Tôi tiu nghỉu:
-         Mấy cái tên nớ chắc do Xuân Thanh đặt chớ làm chi mà có.
-         Ờ, vì mình là chủ nhân ở đây mà. Vũ thấy mach nước bên cạnh suối Xuân Thanh không?
-         Thấy chớ.
-         Tên Vũ đó.
-         Không tin, đặt hồi mô đó.
-         Lâu rồi, từ khi quen… đó.
-         Rứa hả!
Tôi cầm tay Xuân Thanh. Xuân Thanh rất thẹn thùng, mặt đỏ ửng lên. Ô, tình yêu thời ấy sao mà tuyệt vời đến như vậy, và sau này tôi mới biết đó là lần cuối cùng chúng tôi gặp nhau. Tự nhiên bạn hỏi:
-         Vũ có thương Thanh không?
-         Có chớ.
-         Vũ hứa với Thanh một điều nghe?
-         Ờ, nhưng có thể làm được không đã.
-         Cái ni Vũ làm được.
-         Ờ, thì nói đi.
-         Cố gắng học cho thiệt giỏi.
-         Chỉ rứa thôi na?
-         Ờ, chỉ rứa.
Tôi tần ngần:
-         Thiệt ra hoàn cảnh Vũ cũng khó khăn lắm.
-         Thanh biết chớ, Thanh sẽ cầu nguyện thêm cho Vũ, Vũ nhớ là Vũ học cho Thanh nữa đó.
Trong lòng tôi thật sự cảm động. Hai đứa tôi im lặng, tay trong tay một lúc lâu. Có lẽ giây phút này là giây phút đáng nhớ nhất trong đời. Vâng, tôi sẽ cố gắng, học thật giỏi và mong có một ngày sớm trở lại nơi này…

Bây giờ, tôi ngồi nhìn những con nước nhỏ chạy nhảy tung tăng dưới chân mình. Có lẽ chúng cũng chỉ là một con suối thôi nhưng do địa hình nên chia thành nhiều dòng chảy, lang thang mãi rồi đến đây lại nhập thành một dòng nước. Những con suối tuy nhỏ nhưng rất kiên trì cùng năm tháng, không bao giờ khô cạn, có lẽ bởi mạch nguồn của nó rất lớn. Mỗi con suối có lẽ sẽ mang trong mình những kỷ niệm riêng tư khi trôi qua một vùng đất lạ, để rồi khi cùng nhau hòa thành một, chúng lại có dịp sẻ chia những gì tốt đẹp nhất cho nhau, cùng nhau hoàn thành được nhiệm vụ mà cuộc sống giao phó, đem lại sức sống cho biết bao nhiêu cánh đồng.
Thời gian sau này, tuy không gặp Xuân Thanh nữa, nhưng tôi vẫn biết Xuân Thanh ở nhà làm nghề thợ may, một nghề truyền thống của gia đình. Nghe nói bạn làm ăn tốt lắm, một mình cáng đáng hết việc gia đình, chúng tôi rất mừng. Những năm cuối đại học, gia đình tôi gặp khá nhiều khó khăn. Hai người anh đã có gia đình nên chuyện giúp đỡ tôi không còn được đầy đủ như trước được. Cũng may là đến năm thứ ba, tôi bắt đầu tìm được một vài chỗ dạy kềm, kiếm thêm kinh phí để trang trải cho cuộc sống. Người giúp đỡ tôi nhiều nhất lại là Gắng. Không hiểu làm cách nào mà cứ đều đặn, mỗi tháng Gắng đều gởi cho tôi một ít tiền, nói là để “động viên tinh thần học tập” của tôi. Thật ra, lúc đầu tôi không dám nhận vì tôi biết bạn cũng đâu có dư giả gì, nhưng Gắng cứ nói hoài, thành thử cuối cùng tôi cũng đành phải nhận, mà thật ra, nó cũng rất quan trọng với tôi trong thời gian ấy. Chính nhờ có số tiền nho nhỏ của Gắng mà tôi đã vượt qua được giai đoạn khó khăn của những năm cuối cùng của bậc học. Nói thật, thời gian đó tôi rất biết ơn và có cảm tình với Gắng nhiều. Dù vậy, tôi cũng không dám nói gì với Gắng, bởi hình ảnh của Xuân Thanh vẫn còn đó, những lời hứa hẹn hôm nào vẫn  theo tôi trong từng năm tháng, tôi sẽ cố gắng học hành cho thật tốt, đó là ước nguyện của bạn tôi.
Sau khi làm đề tài xong, tôi lại về Bình La thăm Gắng và Xuân Thanh. Gắng nói với tôi, gia đình Xuân Thanh đã chuyển đi nơi khác rồi, xa lắm, hình như Đắc Lắc thì phải. Thấy tôi tỏ vẻ buồn, Gắng nói, hôm trước khi đi, Xuân Thanh có lặn lội ra trường thăm chúng tôi và cũng để nói lời chia tay. Xuân Thanh không muốn làm tôi phân tâm, ảnh hưởng học hành vì tôi đang mùa thi tốt nghiệp, vì vậy bạn chỉ ở lại chơi với Gắng một đêm rồi trở về. Nghe nói tôi học tốt, Xuân Thanh mừng lắm, chỉ nhắn lời động viên tôi cố gắng hết mình.
Thấy tôi không tin, Gắng liền rủ tôi lên thăm lại nhà Xuân Thanh lần cuối. Con suối La Nga với những dòng chảy nhỏ mang tên ba chúng tôi vẫn còn đó, vậy mà…
Tôi ngồi yên lặng nghe dòng nước cứ róc rách chảy, chảy thật vô tư cho dù năm tháng có đi qua, cho dù bên cạnh nó có những người bạn cũ đang tìm về. Dòng suối Xuân Thanh vẫn như ngày nào, trong trẻo và dễ thương. Một vài chiếc lá nhỏ đâu đó vội chảy theo con nước biếc, những chiếc lá mong manh như cuộc hội ngộ của ba chúng tôi, nhưng tôi biết rằng khi ở trong dòng chảy lớn lao của cuộc sống, chúng tôi vẫn có thể gặp nhau. Gắng nheo mắt nhìn tôi:
-         Bi chừ, Gắng nói ri, Vũ đừng giận nghe.
-         Răng mà giận?
-         Cái nớ không phải của mình đâu.
-         Là cái chi?
-         Thì món quà hỗ trợ bạn trong mấy năm rồi đó.
-         Ủa, rứa của ai?
-         Của người ni nề. Gắng đưa tay chỉ về phía suối.
Tôi chợt hiểu ra.
-         Mình định nói với Vũ nhưng Xuân Thanh không cho nói, sợ Vũ mặc cảm, không nhận. Xuân Thanh nghe nói Vũ học giỏi, hắn mừng lắm.
Tôi lặng người, nói sao đây. Một khoảng lặng của ngày xuân lại trở về. Trong cái không gian im ắng đó hình như có hơi thỏ của tình yêu đang tràn về trên từng ngọn cỏ biếc xanh của một sớm mai đầy nắng. Cám ơn Xuân Thanh, người đã hết lòng chia sẻ những nổi khó khăn với tôi trong những ngày khốn khó. Tôi lại được nghe Gắng kể lại những gì Xuân Thanh đã làm trong thời gian qua để có thể giúp đỡ được gia đình và giúp sức cho tôi. Và tôi cũng thật không ngờ bạn giữ lời hứa với tôi một cách hoàn hảo, không những cầu nguyện cho tôi mà còn giúp tôi vượt qua được những tháng ngày khó khăn đáng nhớ ấy. Không biết rồi chúng tôi còn có cơ hội để gặp lại nhau không, nhưng có lẽ suốt những năm tháng trong cuộc đời mình, tôi không thể nào quên được những gì bạn đã làm cho tôi.
Cuộc sống có nhiều điều thật diệu kỳ, và điều tuyệt vời nhất là khi chúng ta có những người bạn ở trong Chúa, biết yêu thương đùm bọc lẫn nhau. San sẻ cho nhau những gì mình có thể là một việc làm cần thiết, và tôi cũng biết rằng điều tốt nhất tôi có thể làm để đáp lại tấm lòng của bạn tôi là phải biết yêu thương và giúp đỡ người khác. Cảm ơn Chúa đã dạy chúng con biết yêu thương, yêu thương bằng tất cả tấm lòng.

CON CHIM HẠC GIẤY HỒNG


CON CHIM HẠC GIẤY HỒNG

Cứ mỗi độ xuân về tôi lại tìm đến dòng sông nhỏ nơi quê nhà. Cái vẻ lững lờ, lặng lẽ của dòng sông vẫn vậy, như một thói quen cố hữu của một người bảo thủ, sống mặc nhiên, tự tại bên dòng đời biết bao cung bậc thăng trầm, dẫu nắng gió mùa hạ cũng như mưa bão mùa đông đi qua, dòng sông đón nhận thời gian mà không hề có chút nghĩ suy. Cuộc đời con người giống như những hạt nước nhỏ li ti trôi theo dòng sông cuộc sống. Một ngày nào đó được sinh ra từ cội nguồn non xanh nước biếc, rồi tung tăng, hớn hở khi đặt những bước chân đầu tiên vào dòng suối nhỏ vắt qua từng khe đá xanh rêu. Những dòng thác rũ mình trong mưa nắng núi rừng, dang tay chờ đón chúng ta vào một sớm mai đầy nắng ấm, rồi cuộc đời lại rộn vui khi được hòa mình vào dòng nước bao la của con sông cội nguồn, đem lại mùa màng tốt tươi cho cánh đồng quê mẹ, niềm vui đơn sơ, chân chất nét mộc mạc bao đời vẫn thế.
Tôi vẫn còn nhớ ngày chia tay, em tặng cho tôi một con hạc giấy, nói là chúc anh có sự bền lòng trên con đường của mình. Lúc đó tôi cũng không biết con hạc giấy mang ý nghĩa gì, chỉ sau này mới hiểu là nó một ước nguyện cho đời sống được lâu dài. Ờ, cũng được, không dễ gì chúng ta có thêm được một phút giây nào trong cuộc sống nếu nó không phải là của mình, nhưng nếu chúng ta sống hết lòng với khoảng thời gian ngắn ngủi đó thì thật là tuyệt vời. Tôi nói với em như vậy, cô bé cười, nụ cười sáng lên cả đôi mắt, đôi mắt có ánh vàng của những tia nắng đầu xuân, những tia nắng thật may mắn vì đã lọt được vào tiếng cười của em tôi và vang vọng mãi trong không trung thinh lặng.
Mong ước một ngày sau đâu dễ gì gặp được, thôi thì cứ xem như hôm nay là khoảng thời gian quí giá để chúng mình có thể nói hết được tâm lòng. Nghĩ thì nghĩ vậy, chứ giữa tôi và em bao giờ cũng còn một khoảng lặng khó tả, khoảng lặng không ai muốn xóa đi như một chiếc lá vàng còn rơi muộn giữa ngày xuân để nhắc lại một mùa đông giá lạnh tuyệt vời vừa bước chân đi ở một góc chân trời… Nắng xuân thành phố biển có màu vàng tươi rất lạ, tôi hỏi, cái gốc Huế của em đâu rồi. Em cười, từ khi vào đây cứ phai nhạt dần. Ờ có lẽ vậy. Cuộc đời tôi cũng may mắn có được những tháng ngày làm cậu học trò ngây thơ của cố đô một thời vang bóng, cũng đã từng tắm mưa Huế, ngồi ngắm những đêm hội thả đèn lung linh sáng dọc sông Hương. Em ngồi với tôi tại một quán nước vỉa hè, tôi thầm nghĩ, cái nơi này cũng có diễm phúc chào đón hai người con của Huế tha phương, những cánh chim lang bạt mãi bốn phương trời, nhưng lại gặp nhau ở một nơi xa lắc quê nhà. Cái tiếng Huế trọ trẹ như vẫn còn chút âm hưởng trong giọng nói của em, những “ni, mô, tê, nớ, chi rứa, ra răng…” chắc không còn mấy ai biết, mấy ai nói với em, nhưng em vẫn dùng và tôi vẫn thích.
Tôi nói:
-         Mai anh về lại rồi nghe.
-         Ờ, em biết. Anh lên tàu khi mô rứa?
-         Chắc khoảng 3g chiều.
-         Chậc, đi cái giờ nớ, chắc bận, không tiễn được.
-         Cần chi tiễn. Tiễn rồi khóc sướt mướt, người ta tưởng đang tiễn người yêu ra trận.
-         Người yêu mô rứa?
-         Thì ai biết!
Tôi cười và em cũng cười, cô giáo nhỏ nhắn trong tà áo dài muôn thưở của người con gái Việt Nam, tôi thì chẳng biết có chút “Huế” gì không, nhưng chắc chắn khi người con gái Huế mặc áo dài thì cũng phải có chút cổ xưa gì đó. Sau này khi ra công tác ở Huế, tôi lại gặp Phước, Thu Hà…, những cô giáo của trường Đại học Khoa học Huế, thường ngày họ vẫn lên lớp với chiếc áo dài, chiếc áo dài ôm ấp những người con gái Huế bé nhỏ mà duyên dáng vô cùng, lúc đó tự nhiên tôi lại nhớ đến em…
-         Ước chi được đi như anh.
-         Thì cứ đi. Cứ bay như những cánh chim.
-         Chim à, chắc chim cánh cụt.
Em cười trong ánh mắt, giống như không cười. Ờ nhỉ, con người nào cũng thích đi đây đi đó. Nhưng số phận là số phận, đâu phải muốn là được, được theo ý muốn đâu.
-          Biết đâu em ở đây mà làm được nhiều việc giá trị hơn anh làm, tôi an ủi em.
-         Ờ, có lẽ rứa, câu ni nói hay đó nghe.
Toi cầm con hạc giấy trên tay. Con chim hạc màu hồng, không biết có giống màu thực của nó không, có lẽ điều đó không quan trọng. Tôi hiểu được ý em, chỉ cần nhìn nó là tôi không thể quên được người em gái có cái tên đặc biệt này, Phượng Hồng.
-         Nếu mình gặp nhau mùa hè vui hơn chớ.
-         Răng rứa?
-         Thì có hoa phượng, nắng hồng…
-         Cần chi mùa hè, mùa mô cũng có phượng, nắng hồng hết…
-         Biết rồi, biết cái tên nổi tiếng rồi…
-         Chừ biết hơi trễ.
-         Có lẽ rứa nên mình phải đi chứ không dám ở lại.
Em nhìn tôi có vẻ dỗi.
-         Ờ, rứa là chê người ta?
-         Đâu có, chỉ nói cho vui thôi.
-         Ờ nói cho vui, chứ thiệt là… “chít” nghe!
-         Ghê quá, sợ cô nương rồi.
-         Mà nè!
-         Chi rứa?
-         Hễ khi mô nhớ thì cứ tới thăm dòng sông nhỏ quê mình, luôn có em.
-         Rứa hả. Răng lại luôn có em?
-         Thì mỗi lần em nhớ, em cũng ngồi bên dòng sông ni, dù răng hắn cũng có thể nối con nước ni với dòng sông quê mình.
-         Cũng hơi xa đó, một con sông thành phố và một con sông quê.
-         Đó là hoàn cảnh khách quan chớ sông mô cũng sông thôi.
Em nheo mắt cười, tôi cũng cười, tiếng cười lại hòa vào không khí một một ngày xuân thành phố biển. Có lẽ con sông nào cũng vậy, cũng với những bến bờ ấp ủ hàng cây ngã bóng, cũng dòng nước ngọt lành từ cội nguồn non cao. Tôi ước mong những con sông mãi còn in dấu bóng hình thân thương của từng bạn bè, người thân… dù lớn hay nhỏ thì vẫn đẹp vô cùng vì luôn ẩn chứa những kỷ  niệm thương yêu của một thời đã qua. Con đường bên kia cũng chạy dọc theo dòng sông lớn của thành phố. Những ngôi nhà ổ chuột ngày xưa không còn nữa, bây giờ là công viên, là nhà cao tầng, cả một không gian lớn rộng thênh thang… Nhưng sao tôi vẫn thấy quyến luyến một dòng sông quê, một con đò nhỏ, một gốc đa… con sông quê hương hiền hòa bao đời, và một thời niên thiếu, cái thời ngây ngô chơi bắn bi, nhảy lò cò, u mọi… vô tư như những con chim sẻ suốt tháng ngày không một chút lo lắng.

Bỗng em hỏi tôi:
-         Anh có hồi mô nghĩ tới sự ra đi không?
-         Là răng?
-         Là chết đó.
-         Có chớ.
-         Sợ không?
Tôi cười:
-         Thiệt tình cũng sợ sợ.
Em cũng cười.
-         Em nghĩ đó chỉ là một giấc ngủ sâu trong Chúa.
Ờ nhỉ, chỉ là một giấc ngủ sâu trong Chúa. Qua những tháng ngày bươn chải trong cuộc sống, chúng ta mỏi mệt trở về bên Đấng Tạo hóa, và vô cùng phước hạnh khi được ngủ yên trong Chúa, để rồi một ngày sau thức dậy, chúng ta lại được hội ngộ cùng những người thân yêu của mình…

Chuyến tàu lúc lắc vượt qua từng căn nhà nhỏ trên phố. Đang giờ làm việc nên em không thể tiễn, nhưng tôi luôn biết chắc rằng, chúng tôi vẫn luôn gần nhau trong từng nỗi nhớ. Khi về đến nhà, tôi lại nhận được món quà Valentine của em. Đúng ra mình phải tặng người ta, vậy mà lại để người ta tặng mình, tôi tự trách sao mình vô tâm đến thế. Hóa ra em không chỉ chúc cho tôi vững vàng trên những bước đường đời mà còn hỗ trợ sức lực thêm cho thôi. Món tiền tuy nhỏ nhưng tôi biết đó là những gì em có thể dành dụm được cho tôi, để tôi thêm có thêm động lực mà lên đường…

Tôi nghe tin em ra đi trong một ngày đầu xuân, bệnh ung thư đang ở giai đoạn cuối. Linda nói, những ngày sau cùng trên gường bệnh em vẫn nhớ, vẫn nhắc đến tôi. Cầm con hạc giấy màu hồng trong tay, bây giờ tôi mới hiểu hiểu vì sao em lại cầu chúc cho tôi những điều như vậy. Có lẽ em biết trước mình không còn gặp tôi bao lâu nữa nên ao ước dành cho tôi tất cả những gì mình có, để tôi còn cơ hội Hầu việc Chúa. Tôi lại nhớ đến những lời em nói trước lúc chia tay, chết là một giấc ngủ dài trong Chúa. Và nay, em lại bước vào giấc ngủ dài để chờ đợi ngày hội ngộ với tôi. Xin cho giấc ngủ của em được mãi yên bình, và tôi mong có ngày sớm tìm thấy em…
Vũ Alpha

LỜI CẦU NGUYỆN DỄ THƯƠNG


LỜI CẦU NGUYỆN DỄ THƯƠNG

Duyên ngồi nhìn ra ngoài, trời không mưa nhưng rất lạnh. Không hiểu thời tiết năm nay như thế nào mà rất lạ lùng, từ đầu tháng 12 đến nay hoàn toàn không có mưa, thỉnh thoảng lại có một vài ngày nắng nóng như giữa mùa hè. Sau đông chí, trời bỗng trở nên lạnh dữ dội, cái lạnh khô của mùa đông khắc nghiệt. Mới hôm qua đây còn phong phanh áo cánh, vậy mà bây giờ ai cũng áo ấm, khăn quàng, tất mang đầy đủ. Hình như thời tiết dang đùa giỡn với mọi người, thay đổi nhanh chóng một cách không ngờ, vậy mà mới hôm nào đây, có nhiều người cứ thầm than: Noel năm ni răng không thấy lạnh…

Hôm nay, Ti Na bị sốt, đang nằm trong nhà, chắc là do hôm qua đi về ngoại, bị cảm lạnh. Vũ đã đi mua thuốc cho con, Ta Ni còn ngủ, chỉ còn lại Duyên với Ti Na. Hôm qua, bác sĩ Lâm có đến nhà khám cho bé, bé bị cảm lạnh thôi, nhưng cho đến sáng nay Ti Na vẫn chưa bớt… Nhìn thấy con đau nằm đó, Duyên lại càng buồn hơn, phụ nữ mà. Duyên lại nhớ đến những ngày Ti Na còn bé, nó là niềm hy vọng yêu thương của gia đình. Hồi sinh Ti Na, nhà Duyên còn rất khó khăn chứ không phải như bây giờ, hai vợ chồng mới ra riêng, cái gì cũng thiếu thốn. Nàng phải tự tay đi mua vải về may tả cho con bé, tự sắm tất cả mọi thứ vì đâu có ai giúp cho. Hôm chuyển bụng, giữa khuya, hai vợ chồng chở nhau trên chiếc xe đạp cà tàng ra đến bệnh viện xa đến mấy cây số, cũng may là lúc đó Duyên rất khỏe nên mẹ tròn con vuông, Ti Na cũng rất to. Ông ngoại Tám cứ nói Duyên nhờ gen của mẹ, chắc là đúng như vậy. Nghĩ cũng tủi thân cho bé Ti Na, sinh ra chỉ có ông mà không có bà. Chính vì vậy, đã thương, nàng lại càng thương Ti Na hơn, bởi sau này, em Ta Ni vẫn có điều kiện thuận lợi hơn hẳn chị. Hồi mới một tuổi, Ti Na bị một trận đau kịch liệt, viêm màng não mủ, mê man suốt mấy ngày, tưởng rằng đã không qua khỏi. Vậy mà Chúa đã thương xót và cứu bé khỏi bệnh. Đó là những tháng ngày Duyên không thể nào quên được. Lúc chở đến bệnh viện, Ti Na hầu như không còn biết gì cả, thậm chí khi người ta lấy tủy sống xét nghiệm, bé cũng không một chút đau đớn. Nhờ tiêm kháng sinh kịp thời, đến sáng hôm sau Ti Na mới tỉnh dậy, dần dần biết đòi ăn, đòi uống. Chúa cũng cho nàmg thấy được ơn phước của Ngài ban cho gia đình Duyên, một đứa trẻ khác cũng trạc tuổi Ti Na, cũng đau bệnh như Ti Na, dù gia đình khá giả, chạy chữa nhiều nơi rồi mà vẫn không hết bệnh. Rồi ngay trong đêm đầu tiên, khi nàng và con ở lại bệnh viện, một đưa trẻ khác cũng vừa qua đời trong một cơn bệnh hiểm nghèo… Duyên càng biết ơn Chúa nhiều hơn khi thấy con mình hiện nay vẫn khỏe mạnh, dù đã có những lúc hiểm nguy.
          Cũng chính vì vậy, mà vợ chồng Duyên thường xuyên cầu nguyện cho con. Thế nhưng mỗi lúc bé đau là mỗi lúc Duyên phập phồng lo sợ. Đôi lúc nàng nghĩ có phải mình yếu đuối không, hay là Chúa đang thử thách đức tin của nàng. Cũng có thể, Chúa đã đặt để gia đình trong hoàn cảnh như vậy để nàng thấy rằng Chúa luôn yêu thương và ban sự bình an cho những ai biết trông cậy vào Chúa. Ờ, mà cuộc đời thì có ai bằng phẳng mãi đâu. Hồi Ti Na mới hết bệnh, ai cũng lo nó sẽ bị di chứng, ảnh hưởng đến trí não, bác sĩ cũng nói vậy. Chuyện đó đã từng xảy ra với nhiều đứa trẻ rồi, nên họ khuyên hai vợ chồng cũng phải bình tỉnh nếu chuyện không vui đó lại xảy đến với Ti Na. Hai vợ chồng cầu nguyện không thôi, cả Hội Thánh cũng cầu nguyện cho bé, và như một phép lạ, bé không những không có biểu hiện gì bất thường mà còn thông minh, học giỏi. Tuy nhiên, vì sức khỏe yếu nên mỗi lần bé đau là y như cả nhà phải chuẩn bị tinh thần nhập viện. Dù không như lần đầu tiên, nhưng đợt nào cũng sốt cao, ít thì vài ba ngày, còn lâu thì mười ngày…

Nấu xong nồi cháo nóng cho con, Duyên lại lên nhà trên nhìn ra ngoài đường, thời tiết vẫn co ro trong giá lạnh, hình như tất cả cảnh vật xung quanh đều đứng lại theo thời gian, con đường nhỏ trước nhà không một bóng người qua lại, có lẽ chẳng có ai muốn đi ra ngoài vào giờ này cả… Ngày thường vẫn có nhiều người qua lại, vẫn nghe văng vẳng tiếng cười nói, vậy mà hôm nay thật là im ắng như cả thế giới này không một bóng người. Ngoài trời chỉ có tiếng gió rì rào, mưa nhẹ. Mấy hôm trước trời mưa nhiều nên ít lạnh. Hôm nay không mưa, không khí như khô lại, lạnh buốt. Duyên cũng trông Vũ đi mua thuốc mau về, chứ ở nhà một mình thì cũng lo. Nếu có chuyện gì thì hai người vẫn tốt hơn một mình nàng, rồi Duyên lại tự trách mình, sao lại bi quan đến vậy, những gì xảy ra thì đã xảy ra rồi, dù sao nếu xem xét kỹ, thì hình như sức khỏe Ti Na ngày càng tốt hơn, ít đau lặt vặt hơn ngày xưa nhiều. Duyên cũng mong như vậy.

Ta Ni ngủ dậy từ lúc nào không biết, ra ngồi cạnh mẹ.
-         Chị Hai chưa hết đau hở mẹ?
-         Ờ. Duyên buồn buồn trả lời.
-         Mẹ có cầu nguyện cho chị Hai không?
-         Có chớ, mấy bữa ni ba mẹ cầu nguyện cho Hai hoài. Mà không phải mấy bữa ni không đâu, hồi mô ba mẹ cũng cầu nguyện cho con với chị Hai hết đó.
-         Con nghe rồi. Mà răng chị Hai cứ đau hoài rứa mẹ?
-         Thì sức khỏe chị Hai không bình thường như con. Chị Hai yếu hơn thì con phải biết thương chị Hai nhiều lên nghe.
-         Dạ. Ta Ni cứ nheo mắt nhìn Duyên. Bỗng nó thì thầm vào tai Duyên.
-         Con cầu nguyện cho chị Hai, được không mẹ!
-         Ờ được.
-         Mà nói ngắn ngắn được không mẹ, Chúa có nghe không ?
Duyên cười.
-         Chúa đâu phân biệt cầu nguyện ngắn hay dài, chỉ quan trọng là cầu nguyện thiệt lòng.
-         Con thiệt lòng lắm đó.
-         Rứa thì con cầu nguyện cho chị, chắc Chúa sẽ cho cho chi Hai nhanh hết bịnh… Ờ mà nhớ cầu nguyện cho ba, cho mẹ luôn nghe.
-         Ba, mẹ… con cầu nguyện răng đây mẹ?
-         Thì cầu nguyện cho gia đình mình khỏe mạnh nè, trung tín, đi nhóm thường xuyên, công việc ổn định…
-         Thôi nhiều quá, con nói không được, hay là mẹ cầu nguyện với con nhe!
-         Ờ, cũng được, hai mẹ con mình cầu nguyện cho chị, cho cả nhà.
Ta Ni thích chí lắm, hớn hở ra  mặt. Duyên cùng Ta Ni cầu nguyện. Nàng hướng dẫn cho con từng lời một, dẫu sao Ta Ni cũng còn quá bé, mới học mẫu giáo mà. Nàng biết đây là dịp để mình dạy con dâng lời cầu nguyện cùng Chúa. Chính qua những lời cầu nguyện này, đời sống tâm linh của con sẽ được lớn lên, sẽ được mạnh mẽ hơn. Lời cầu nguyện với Chúa chính là nền tảng vững chắc cho một đời sống theo Chúa. Dầu nghe Ti Na cầu nguyện nhiều lần rồi, nhưng lần này những lời cầu nguyện Ta Ni làm nàng xúc động thật sự. Lời của trẻ con thật dễ thương, chân thành và thật tâm. Nàng hé mắt ra nhìn Ta Ni một chút, thấy nó chăm chú cầu nguyện, khuôn mặt ngời sáng trong thật đáng yêu. Vậy mà bấy lâu nay nàng không để ý tới Ta Ni, chắc là do quá quan tâm đến bệnh tình của Ti Na. Ti Na có lẽ đã chững chạc hơn cái tuổi của mình, đã biết thương yêu những người trong gia đình một cách tự giác, cảm ơn Chúa nhiều lắm. Hai mẹ con cầu nguyện xong đã lâu rồi mà Duyên vẫn chưa muốn đứng lên, nàng muốn tận hưởng thêm những giây phút hạnh phúc tuyệt vời mà nàng vừa có được.

Ti Na thức dậy hồi nào không biết, ra ngồi trên ghế salon.
-         Ủa, con dậy rồi đó hả?
-         Ti Na tươi tỉnh nói:
-         Dạ, con khỏe rồi mẹ nè.
-         Duyên cười:
-         Rứa hả? Nàng đưa tay rờ người Ti Na, Duyên thấy hình như bớt sốt rồi. Nàng lấy kẹp nhiệt đo thử, ô, hay quá, chỉ còn 38 độ. Sao xuống nhanh vậy. Duyên hỏi:
-         Con có đói bụng không?
-         Con đói bụng lắm.
-         Mẹ lấy cháo cho con ăn nhé?
-         Dạ.
Ta Ni thấy chị Hai khỏe lại mừng lắm, nó hí hửng khoe.
Lúc nãy em và mẹ cầu nguyện cho chị đó.
-         Ủa, Ta Ni biết cầu nguyện rồi hả?
-         Chớ răng, không những rứa mà Ta Ni còn cầu nguyện cho cả nhà nữa.
-         Thiệt hả mẹ.
Duyên vừa bưng tô cháo lên cho con vừa trả lời.
-         Ờ, em ngoan lắm con nợ, lúc  nãy hắn cầu nguyện dễ thương lắm.
-         Cả hai đứa nhỏ cùng kêu lên:
-         A, cầu nguyện mà dễ thương hở mẹ?
-         Ờ, con chưa thấy răng? Duyên ôm hai chị em vào lòng nàng sung sướng:
-         Dễ thương lắm, hai cục cưng của mẹ.

Đúng là lời cầu nguyện dễ thương. Cảm ơn Chúa đã nhắc nhỡ con trong việc hướng dẫn con cái trong nhà, đôi lúc vì quá bận bịu, mình lại không nghĩ đến những điều cần phải làm. Có lẽ cũng cần có những lúc chúng ta nên nhìn lại mình để thấy ơn phước Chúa ban cho thật diệu kỳ, cuộc sống cần có tình yêu như hơi thở của một người, mà cầu nguyện cho nhau cũng là cách thể hiện tình yêu tuyệt vời nhất.

            

THƠM


THƠM

           
Một ngày cuối năm, theo lời nhắn của mợ Tư, chúng tôi tranh thủ về thăm nội, mấy đứa nhỏ háo hức ra mặt, vì thực tế khi về thăm nội, chúng cũng có thể về thăm ông ngoại. Chú Tám kỳ rày cũng khỏe hẳn ra khi không còn phải một mình coi ngó nhà thờ như trước đây bởi đã có Thầy cô Truyền Đạo về chăm lo. Nói thì nói vậy chứ chú cũng không thể xa được cái nhà thờ chất chứa biết bao kỷ niệm của một đời người. Sau khi Duyên về thành phố với tôi thì những lúc buồn nhớ, chú lại qua bên nhà thờ ngồi một mình trên chiếc võng nhỏ đong đưa như muốn tìm lại những dấu tích thời gian đã qua. Tôi biết chú nhớ cô Hoa lắm nên thường cho Ti Na và Ta Ni về chơi với chú, vừa để chúng nó thư giãn, giảm bớt căng thẳng sau những ngày học tập vất vả, vừa cũng để chú khỏi buồn vì tôi đã đem người con gái mà chú yêu thương đi mất. Cuộc đời là vậy, có những điều mình muốn níu kéo mà vẫn không được, con đường chỉ có thể thấy được khi chúng ta đã đi qua…

          Mới thấy chúng tôi về đầu ngõ. chú Tám mừng ra mặt. Tuy vậy, chú cũng không vội vàng chạy ra mà ngồi trong nhà nói ra:
-        Mấy đứa nhóc của ông ngoại về đó hả?
Ti Na và Ta Ni thì chưa kịp chào thưa, vội bám lấy chú Tám mà đùa giỡn làm chú cười ngây ngất. Thấy chú vẫn khỏe, chúng tôi rất mừng. Mấy năm trước, tôi và Duyên nói chú xuống ở với chúng tôi cho vui nhưng chú một mực không chịu đi, tôi hiểu, chú không xa nơi này vì nhiều lý do, nhưng để chú ở một mình thì thật không yên lòng. Cũng may trên này còn có nội và chú thím tôi, có gì chạy qua chạy lại, cũng đỡ buồn. Muốn ở lại với ba lâu hơn, Duyên nói với tôi về nội một mình trước, nàng và hai đứa nhỏ ở lại nhà cho chú vui, rồi chiều ba mẹ con sẽ ghé qua thăm nội. Tôi thấy vậy cũng được, nên gởi mấy đứa nhỏ lại cho ngoại.

Đường về nhà nội bao năm rồi cũng vậy, hình như không hề thay đổi, quanh co trong những bui tre dày theo năm tháng. chỉ khác đi là bây giờ đã đổ bê tông hết rồi nên không còn cái cảnh vất vả lội bùn mỗi khi trời mưa lớn. Chiếc cầu tre bắt qua con suối nhỏ từ lâu cũng đã không còn, hiện nay để mở đường liên huyện, người ta đã khoát lên cho nó một chiếc cầu xây vững chắc. Tôi vẫn còn nhớ, ngày xưa, khi có nước lũ về cuốn trôi cầu thì chúng tôi phải lội qua suối, có khi rất nguy hiểm. Cuộc sống là vậy, dù còn nhiều khó khăn nhưng chắc chắn sẽ có những điều tốt đẹp đang chờ phía trước nếu chúng ta biết hy vọng, biết lạc quan, yêu đời. Tôi đang đi giữa một ngày xuân, nhưng lại rất im lìm, tiếng chim hót líu lo ngày nào đã đi đâu mất, dành lại cho tôi một không gian êm đềm đang trôi nhè nhẹ giữa những tháng ngày đầy ắp kỷ niệm thời ấu thơ. Thật vậy, dù không muốn, nhưng bao giờ cũng vậy, hễ mỗi lần về thăm nội thì những hình ảnh một thời con trẻ dễ thương ấy lại trở về với tôi như một điều có sẵn.

Cả gia đình nội bây giờ chỉ còn có mấy người. Dù ngày trước, nội tôi sinh được đến chín người con, nhưng bây giờ chỉ một mình chú Năm sống với nội. Hoàn cảnh mà, không biết có gia đình nào như gia đình nội không. Mợ Tư, sau khi chú mất, mợ vẫn ở vậy nuôi bốn đứa con thơ cho đến ngày hôm nay. Văn, đứa con đầu có gia đình ở xa. Vấn, mất sớm để lại Thọ và hai đứa con. Thơm đi may tại thành phố, ở nhà chỉ còn Thảo lay hoay phụ việc nhà nông cùng với mẹ. Nội tuy già nhưng sức khỏe còn tốt, ăn uống, đi lại được. Chúa nhật nào, nội cũng tự đi bộ qua nhà thờ để nhóm, trừ những hôm trái gió trở trời, người mệt mỏi nội mới không đi. Tuy vậy, có hôm nội cũng nhờ mấy đứa nhỏ con chú Năm chở đi. Nhờ đức tin nội vững vàng nên nội mới dẫn dắt được mợ Tư và mấy đứa em. Mợ Tư vốn là người không tin Chúa, nhưng nổi tiếng là người hiền lành, dễ mến. Khi về làm dâu, nội cứ làm chứng về Chúa hoài cho mợ Tư, rồi bảo mợ chở nội đi nhà thờ. Đi mãi thành quen, rồi mợ cũng tin Chúa, cùng cả nhà đi nhóm lại thờ phượng Chúa đều đặn và ngày càng trở nên sốt sắng.

-         Chuyện răng đó nội?
-         Con hỏi mợ Tư kìa.
Mợ tôi vừa khóc vừa nói:
-    Thằng Văn nó chửi con Thơm.
-    Ủa, răng là hai anh em hắn la nhau?
Thảo chen vào:
-         Anh Vũ chưa biết na, chị Thơm tự túc một đứa, anh Văn la chị Thơm, chửi om xòm. Ảnh kêu ở rứa cũng được, nếu ưng nuôi con thì nhận một đứa con chị Thọ nuôi cũng được, mắc chi tự túc, tự túc là phạm tội…
-         Hắn tự túc hở mợ? Tôi hỏi mợ tôi.
-         Ờ không, hắn cấy, nghe nói hết cả chục triệu… Chừ hắn thì như rứa, còn thằng Văn thì cứ la lên la xuống, tau cũng không biết làm răng.
Tôi nghĩ một chút:
-         Thôi con nói mợ ri, con Thơm hắn cũng lớn rồi, cũng trên 30 rồi phải không mợ.
-         Ờ, năm ni hắn 34 rồi đó.
-         Con nghĩ, hắn làm rứa là xác định không có chồng rồi. Mà mợ nói cấy tức là không phải lấy ai phải không?
-         Ờ thì nghe hắn nói rứa.
-         Rứa thì đâu biết ai là cha đứa bé.
-         Ờ thì đâu biết.
-         Chừng mô hắn về?
-         Chắc cũng mấy tháng nữa, hắn nói ráng đi làm khoảng 8 tháng rồi mới xin nghỉ về nhà sinh.
-         Cái con thiệt, lo mà giữ sức khỏe. Thôi con nói mợ ri, chuyện ni là chuyện của hắn, mình có nói vô nói ra thì cũng đã rồi. Nhưng con thấy hắn định rứa cũng được, khỏi dan díu với ai hết, khỏe. Chừ thì mình nói hắn ri kia đủ thứ, tới hồi về già, đổ bệnh xuống rồi mới biết. Cha mẹ, anh chị em hung lắm là tới thăm một hai lần, rồi Hội Thánh có chi nữa thì họ cũng thăm, cho hộp sữa, quà cáp chi đó, ai mà ở đó chăm sóc hắn ngày ni qua ngày kia. Con nói thiệt với mợ chỉ có chồng, con lo được mà thôi. Mà không chồng thì nhờ cậy con. Máu mủ là hơn hết mợ nghe… Còn nói chuyện hắn nuôi con của con Thọ. Anh chị em trong nhà thấy thì thương nhau đó, nhưng nuôi con của con Thọ rồi bữa sau hắn lớn, hắn cũng về với mẹ chứ răng về với cô được. Răng mà hắn lo cho con Thơm như lo cho mẹ đẻ ra được.
Mợ tôi ậm ừ theo.
-         Thằng Vũ nói nghe được đó, nội tôi bảo.
-         Chừ con nói mợ nghe, chuyện đàn bà chắc Duyên giỏi hơn con, chiều Duyên qua thì có chi chị em bàn với nhau. Chừ chỉ có cầu nguyện cho con Thơm, thứ nhứt, giữ gìn sức khỏe tốt để hồi sinh ra mẹ tròn con vuông. Thứ hai, hắn phải giữ đức tin, không biết việc làm ni có theo ý Chúa không, nhưng phải sốt sắng cầu nguyện, đi nhà thờ xin Chúa giữ gìn, rồi Chúa thương thì con nghĩ hai mẹ con hắn sống cũng vui vẻ thôi, biết đâu lại có phước… Còn ai nói chi thì nói, đó là chuyện của họ, ai mà hiểu được hoàn cảnh của mình.
-         Ờ, mi nói rứa nghe cũng được, để tối hắn đi làm về rồi mợ điện nói chuyện cho hắn yên tâm.

Thật ra nhan sắc Thơm cùng không đến nổi gì. Tuy không đẹp nhưng nhìn cũng tàm tạm. Những năm tháng còn con gái thì sống ở quê, không đi đâu nên cũng ít bạn bè. Vì đất chật người đông nên Thơm cũng theo các bạn cùng lứa vào thành phố tìm việc, sau một thời gian đã xin vào một xí nghiệp may trong thành phố. Lay hoay mãi mà đã chục năm. Tính tình Thơm cũng rất nhẹ nhàng, nhưng thật ra là không biết nói chuyện nên những người mới gặp lần đầu thường cho rằng con bé này có vẻ “kiêu” thế nào. Hồi nhỏ tôi học hơn Thơm cả chục lớp, mà học cũng tốt nên Thơm và cả gia đình mợ Tư có việc gì cũng hỏi ý kiến “anh Vũ” cả. Những năm đi học xa, tuy còn khó khăn, nhưng mỗi lần về thăm nội tôi đều có quà nên mấy anh chị em đều thích lắm. Khi Duyên đến với tôi, cả nhà đều mừng rỡ, vì Duyên cũng dễ thương có tiếng ở quê, mà lại hiền hậu giống cô Hoa…

Buổi chiều, Duyên chở hai đứa nhỏ về nội. Nội thấy Ti Na và Ta Ni thì vui lắm, rơi cả nước mắt, làm Duyên và tôi cũng xúc động theo. Nội cứ ôm hai đứa vào lòng mà trách yêu, tổ cha hai đứa bây, nội nhớ bây lắm biết không… Ngồi chơi với nội, để hai đứa  nhỏ ở lại chơi với bà cố, chúng tôi tranh thủ qua lại nhà mợ Tư. Duyên bàn với mợ Tư:
-         Thôi, con thấy chị em thì phải đùm bọc nhau trong lúc khó khăn. Chuyện của Thơm thì còn lâu còn dài. Trước mắt con nói với mợ như ri, khi mô gần sinh, mợ cho Thơm nó xuống ở với tụi con, dù răng cũng gần bệnh viện, đi lại dễ dàng. Nhà con thì không rộng lắm nhưng cũng có chỗ cho hai mẹ con hắn, với lại ở đó cũng yên tỉnh, sinh xong rồi về nhà con nghỉ ngơi, hồi mô muốn về trên ni thì về. Với lại con cũng muốn Thơm nó ở nhà con, rồi chỉ vẽ cho hắn thêm một ít, chứ hắn cũng còn khờ lắm…
Mợ Tư cũng yên lòng vì biết Duyên vốn là người chu đáo, lại có tình cảm với các anh chị em, dù chỉ là cháu dâu, nhưng bao giờ mợ cũng xem Duyên như con, vì dù sao Duyên cũng không còn mẹ nữa… Tôi thấy vậy cũng ổn.


Kể từ khi Thơm xuống ở dưới nhà, mấy đứa nhỏ rất thích vì sau giờ đi học lại có thêm người để chơi với chúng. Thơm cũng rất yêu trẻ con vì vậy lại càng gần gũi chúng. Ti Na và Ta Ni cứ đòi ngủ với cô hoài, làm Duyên phải nhắc nhỡ vì sợ ảnh hưởng đến em bé sắp sinh. Duyên đúng là bà chị đảm đang, biết em mình chưa có nhiều kinh nghiệm về chuyện sinh nở nên nàng đã tự tay mua đầy đủ những gì cần dùng cho Thơm, đôi lúc chăm non Thơm như một người mẹ. Mợ tôi thấy vậy rất vui và biết ơn Duyên, bởi dẫu sao mợ cũng ở quê, mà chuyện mua sắm ở thành phố thì làm sao sành sõi bằng Duyên được. Thấm thoát đã đến ngày sinh của Thơm, một cu cậu to con, đẹp trai ra đời, ai nấy cũng đều mừng rỡ. Không ngờ thằng bé lại to khỏe như vậy. Ti Na và Ta Ni lại có dịp chơi đùa với em bé, chứ không thì chúng cứ nằng nặc đòi mẹ đẻ em cho chúng bồng. Cả nhà tôi tuy nếp sống thường ngày hơi bị thay đổi một chút, bà con đến thăm Thơm nhiều, nhưng rồi đâu lại vào đấy… Hôm Thơm về lại trên nhà, Duyên chọn lại những quần áo cũ còn tốt của Ti Na và Ta Ni đem cho em bé, hai đứa nhỏ cũng tiếc lắm nhưng vì thương em nên chúng chẳng chút phàn nàn. Chúng tôi chơi sang, thuê luôn một chiếc taxi chở hai mẹ con về tới tận nhà. làm mợ Tư sung sướng ra mặt, bởi ở trên này, ai mà đi taxi thì cũng oai lắm. Thời gian Thơm ở nhà chúng tôi là thời gian Duyên tranh thủ chỉ vẽ cho Thơm những kinh nghiệm chăm sóc con, cách sống trong gia đình, và nhất là giải thích thêm về lời Chúa, vì Duyên biết mặc dầu Thơm theo gia đình tin Chúa bao năm nhưng vẫn còn khá đơn sơ, thời gian đi làm trong thành phố, Thơm cũng không đi nhóm lại nên khá yếu đuối. Duyên hướng dẫn cho Thơm học Kinh Thánh, rồi hai chị em cùng nhau cầu nguyện, tôi thấy như vậy. trong lòng rất mừng, vì mình là anh nhưng thật ra không thể làm được những gì như Duyên đã làm cho Thơm. Nhờ vậy, ngày càng ngày Thơm càng chín chắn hơn, hiểu biết lời Chúa hơn.
Hôm đầy tháng, cả nhà nhất trí đặt tên em bé là Thiện, bởi ai cũng mong ước sau này nó lớn lên sẽ là người thiện lành, còn hai đứa nhỏ thì cứ kêu là Ti Ta, cho nó có một chút giống tên của chúng.

Mấy tháng sau khi con đã lớn, Thơm vào thành phố làm thủ tục xin nghỉ việc về quê mở một tiệm may đồ phía trước nhà. Cũng may là hồi ở thành phố, Thơm có đi học thêm may quần áo nữ và áo dài, chứ nếu chỉ biết may công nghiệp thì bây giờ hơi vất vả rồi. Gia đình mợ Tư rồi cũng dần ổn định, có Thơm về, mợ cũng bớt lắng, Thảo cũng nhẹ bớt đi một phần lo cho gia đình. Thời kỳ này, Thơm rất sốt sắng nhóm lại cùng Hội Thánh, Thầy cô Truyền Đạo còn trẻ cũng rất gần gũi, thường hay qua nhà chơi với cu Thiện, nên Thơm cũng bớt mặc cảm.

Hai năm sau, tôi và Duyên lại nhận được điện thoại của mợ Tư, mời về dự đám cưới của Thơm. Cả nhà rất ngạc nhiên, hóa ra cô em gái một con của tôi lại gặp được một người cũng tử tế. Ông này góa vợ, lại không có con nên cũng muốn tìm một người cùng hoàn cảnh. Nghe đâu anh ta làm thợ mộc xóm dưới, Thơm đi đóng mấy cái tủ quần áo thì gặp nhau. Nhưng điều chúng tôi mừng nhất là chồng của Thơm cũng là một tín đồ của một Hội Thánh gần đó. Thực tế nói, gọi là đám cưới cho lớn chứ chỉ là một buổi ra mắt bà con hai họ thôi, bởi hai bên đều đã “lỡ làng” rồi. Vậy là số phận Thơm cũng không đến nỗi nào, cuối cùng cũng có được một người chồng và một đứa con đàng hoàng. Chúng tôi không biết ý Chúa thế nào, nhưng những bài học Chúa dạy cho chúng ta thì quá nhiều, đến nỗi mình không thể nhận biết hết được. Cuộc đời Thơm lận đận cuối cùng cũng được bình an. Tôi thầm ước mong cho gia đình của hai em được hạnh phúc, thỏa vui trong Chúa là quá tuyệt vời rồi. Có lẽ cũng nhờ những thăng trầm như vậy mà Thơm lại có cơ hội chiêm nghiệm ơn phước Chúa ban cho mình nhiều hơn. Chúa đã yêu thương và thấy được nổi lòng của em tôi và Ngài đã mở cho em tôi một con đường, thật là phước hạnh…