Thứ Năm, 20 tháng 11, 2014

NHỮNG TẤM LÒNG

NHỮNG TẤM LÒNG
Ngày 24/10/2014
 Vũ Hướng Dương


             Chương trình mừng tân gia và bàn giao nhà trẻ Nhân Ái đã xong. Tất cả anh chị em đều mỏi mệt, nhưng vui. Cái niềm vui thật khó tả, bởi mỗi người mỗi tâm trạng, mỗi hoàn cảnh. Riêng tôi, tự biết rằng, những ngày phiêu du sắp kết thúc để trở về với tổ ấm của mình, một khoảng thời gian qua đi thật thú vị với nhiều kỷ niệm khó quên.
Tuy nhiên, điều đọng lại trong tôi lúc này đó là tấm lòng của những người cựu cô nhi Tin Lành Nha Trang, những người đa số đã bước qua tuổi 50, thậm chi có người đã xấp xỉ 70 rồi. Họ đang làm những công việc khác nhau, khác nhau nhiều đến có thể nói, nếu không có cái “tình cô nhi” thì họ khó có thể quen biết nhau, chưa nói đến việc chung tay góp sức để làm một việc gì lớn, có ích cho xã hội, cho Hội Thánh. Người thì kỹ sư, kẻ là doanh nhân, người khác là giáo viên, có người là nội trợ, thậm chí không ít người đã nghỉ hưu, rồi cũng có khá nhiều người dâng mình hầu việc Chúa trong mọi chức vụ…
Cơ sở nhà trẻ nằm trong một khu dân cư yên tỉnh, yên tỉnh đến không ngờ, khiến đôi khi tôi có cảm giác mình đang ở một thế giới khác hẳn với mọi người chung quanh. Mỗi căn phòng mỗi màu sắc, tất cả những trang thiết bị cần thiết, hầu như đã đầy đủ, chuẩn bị cho công tác tiếp đón và nuôi dạy các em nhỏ mồ côi. Nghe bài chia sẻ của Mục sư Nguyễn Hữu Bình mà ai nấy đều cảm động rơi nước mắt. ông nói bằng tất cả tấm lòng của một cựu cô nhi và là một mục sư. Con đường anh chị em đã đi qua thật đáng trân trọng bởi nó đã vượt qua được những rào cản cá nhân, những toan tính hẹp hòi, bé nhỏ để vươn tới một các đích lớn hơn, cụ thể hơn, đó là thể hiện lòng biết ơn Chúa, nhớ ơn các bậc tiền nhân để tiếp tục con đường chăm sóc nuôi dạy các em nhỏ mồ côi trở thành những người con Chúa, những người công dân tốt cho xã hội. Con đường phía trước còn khó khăn, chông gai hơn rất nhiều. Nuôi một đứa trẻ một ngày, rất dễ. Nuôi một tháng cũng không khó. Nuôi một năm đã có vấn đề. Nuôi đến mười sáu năm thật là một vấn đề lớn, đòi hỏi tâm huyết, chung sức chung lòng của biết bao nhiêu con người. Vấn đề đối nội, đối ngoại cũng luôn làm đau đầu những người quản lý. Làm sao để cho người ta hiểu được sự vô tư, tính chân thật, và tấm lòng yêu thương của mình trong việc nuôi dạy trẻ. Chỉ có thời gian và những thành quả đạt được mới có thể chứng mình được một cách hùng hồn những việc mình làm, chứ không phải bằng những lời nói hoa mỹ. Cầu xin Chúa thêm sức cho anh em…
Mỗi tấm lòng những người ở đây đều cùng chung một nhịp đập. Họ như những ngọn đồi nhỏ đã làm nên trùng điệp núi cao. Họ là những con suối nhỏ tụ họp thành dòng sông nhân ái bao la. Chính từ những gì rất nhỏ, rất bình thường ấy, theo tiếng gọi của Chúa, họ đã làm được những việc tốt đẹp cho nhà của Chúa. Cám ơn những tấm lòng của các anh chị em, nhất là những người đi tiên phong, vượt qua đầu sóng ngọn gió để có được ngày hôm nay. Họ hy sinh thì giờ, tiền bạc, công sức để xây dựng nên một ngôi nhà, biểu tượng của lòng biết ơn Chúa, nơi tiếp nối truyền thống tốt đẹp của Cô nhi viện Tin Lành Nha Trang ngày trước.
Những nụ cười, niềm vui hôm nay rồi sẽ qua. Những bóng hình thân thương nào đó rồi cũng sẽ tàn phai. Bước thời gian không vội nhưng rất vô tình, và chúng ta, dù có níu kéo bao nhiêu, tất cả cũng chỉ là những hạt sương mai vội vã bay đi trong nắng sớm vừa lên. Chỉ có tình yêu Thiên Chúa là còn mãi mãi, nó không hiện diện trong góc nhà gỗ đá, trên những con đường rộng rãi thênh thang; nó hiện diện trong từng trái tim, trong tấm lòng biết yêu thương của những người con Chúa. Chính điều đó đã làm cho cuộc sống ngập tràn phước hạnh cho dù vẫn có lắm phong ba, bão táp…
VŨ HƯỚNG DƯƠNG

BÀI HỌC TỪ HỘI THÁNH ĐẦU TIÊN: YÊU THƯƠNG VÀ CHIA SẺ

BÀI HỌC TỪ HỘI THÁNH ĐẦU TIÊN: YÊU THƯƠNG VÀ CHIA SẺ
Ngày 13/09/2014
 Vũ Hướng Dương


Buổi chiều tối nọ, khi đi làm về ngang qua một góc phố nhỏ, tôi thấy một cảnh tượng thật đáng suy nghĩ. Bên kia đường là một cô bé đẩy cùng lúc hai chiếc xe lăn đi dạo. Cô sắp hai chiếc xe lại với nhau, chiếc trước, chiếc sau, và cô đẩy cả hai chiếc cùng chạy.
Một hình ảnh của sự tương trợ. Với một người, chỉ có thể đẩy một chiếc xe, nhưng ở đây chiếc xe được đẩy đó, lại đẩy chiếc xe còn lại để cả hai được lăn bánh trên đường.
Một hình ảnh của sự sẻ chia. Cả hai đều được hưởng thụ thành quả mà đáng lý ra, theo lẽ bình thường, chỉ một chiếc được đẩy đi.
Tự nhiên tôi nhớ đến câu tục ngữ của ông bà ta để lại: “Lá lành đùm lá rách”, và sau này người ta lại thêm vào: “Lá rách ít đùm lá rách nhiều”.
Trong thực tế, nếu biết đùm bọc, sẻ chia với nhau về mọi điều, có lẽ cuộc sống này sẽ hạnh phúc hơn rất nhiều. Sẽ bớt đi những người suốt đời không có một mái nhà, những người chưa bao giờ được ngủ trên một chiếc giường ấm êm, ăn một bữa ngon lành… Đó là nói về vật chất, nếu về tinh thần, thì khi có sự sẻ chia tình cảm, sẽ bớt đi biết bao tâm hồn đau khổ vì thiếu thốn tình yêu gia đình, người thân, và tất nhiên, nếu có sự sẻ chia về Tin Lành ắt sẽ bớt đi rất nhiều linh hồn đang bị tội lỗi xích xiềng.
Trong ngày lễ Ngũ tuần, sau khi được đầy dẫy Đức Thánh Linh, những môn đồ của Chúa đã trở thành những người mạnh mẽ, ra đi rao truyền Tin Lành cứu rỗi của Chúa Giê-xu. Sau bài giảng đầy ấn tượng của sứ đồ Phierơ tại thành Giêrusalem, đã có đến ba ngàn người tin Chúa (một con số rất ấn tượng, và ngày nay cũng rất khó đạt được như vậy), và Hội Thánh Chúa đã được thành lập từ những người tin Chúa đâu tiên như vậy.
“Vả, những người ấy bền lòng giữ lời dạy của các sứ đồ, sự thông công của anh em, lễ bẻ bánh, và sự cầu nguyện. Mọi người đều kính sợ, vì có nhiều sự kỳ phép lạ làm ra bởi các sứ đồ. Phàm những người tin Chúa đều hiệp lại với nhau, lấy mọi vật làm của chung. Bán hết gia tài điền sản mình mà phân phát cho nhau, tùy sự cần dùng của từng người. Ngày nào cũng vậy, cứ chăm chỉ đến đền thờ; còn ở nhà, thì bẻ bánh và dùng bữa chung với nhau cách vui vẻ thật thà, ngợi khen Đức Chúa Trời và được đẹp lòng cả dân chúng. Mỗi ngày Chúa lấy những kẻ được cứu thêm vào Hội thánh.”  (Công vụ 2: 42-47).
Hội Thánh đầu tiên, là HT đầy tình yêu thương và sự sẻ chia. “Phàm những người tin Chúa đều hiệp lại với nhau, lấy mọi vật làm của chung. Bán hết gia tài điền sản mình mà phân phát cho nhau, tùy sự cần dùng của từng người.”. Họ sống với nhau thật chân tình, chia sẻ mọi điều, mọi thứ mà họ có, chính vì thế mà HT đầu tiên là một HT mẫu mực và phát triển rõ rệt. Có nhiều điều chúng ta có thể học tập ở HT đầu tiên, ở đây tôi chỉ xin nhắc đến tình yêu thương và chia sẻ của họ đối với mọi người. Hình như không còn khoảng cách giữa cái “tôi” và cái “ta”, tất cả đều là một. Thật là một HT đúng nghĩa. Sự phước hạnh ngập tràn. Rất nhiều tấm gương trong thời gian này đã được Kinh Thánh ghi lại: Đôca (Tabitha), Lyđi…
Lời Chúa đã dạy: “Nếu ai có của cải đời nầy, thấy anh em mình đương cùng túng mà chặt dạ, thì lòng yêu mến Đức Chúa Trời thể nào ở trong người ấy được!” (I Giăng 3:17).
Chúng ta không thể quên được những HT, những cá nhân, sẵn lòng giúp đỡ các HT khác một cách rộng rãi, đó là điều đáng quí. Và chính nhờ những tấm lòng yêu thương HT, anh em mình như vậy, mà nhiều nhà thờ, nhà nguyện được dựng lên, đáp ứng nhu cầu thờ phượng Chúa của bao tín hữu vùng xa, cũng nhờ sự giúp đỡ ấy mà nhiều tín hữu nghèo có cơ hội vươn lên trong cuộc sống.
Bên cạnh đó, hiện nay, nhiều HT chúng ta dâng tiền cho Chúa, và xin Chúa dùng món tiền đó để làm những việc lớn và khó cho nhà Chúa. Tuy nhiên việc chi dùng những món “tiền của Chúa” thường chỉ trong phạm vi hạn hẹp, chúng ta hay dùng tiền đó để chi cho riêng HT mình mà ít nghĩ đến các HT khác. Trong thực tế, có HT tiền tự trị khá nhiều, dùng không hết, gởi ngân hàng lấy lãi, thì cũng có khá nhiều HT không có đủ tiền để mua một mảnh đất vài ba trăm triệu, xây dựng nhà nguyện, nhà nhóm tạm cho con dân Chúa thờ phượng Ngài. Ở đây, chúng ta thấy, hình như thiếu sự sẻ chia, những đồng tiền dâng cho Chúa hầu như chỉ được dùng cho HT địa phương, còn sự tiếp trợ, hỗ trợ cho những anh em mình, hầu như rất nhỏ giọt. “Tiền của Chúa”, nếu được san sẻ một cách bài bản, đồng đều, thiết nghĩ không bao lâu, tất cả những nhu cầu của các HT đều được đáp ứng mà không cần những cuộc vận động, quyên góp gì.
Ước mong những đồng tiền dâng cho Chúa sẽ đem lại thêm nhiều lợi ích hơn nữa cho nhà Ngài, qua sự yêu thương và chia sẻ cho nhau. Bài học từ HT đầu tiên vẫn còn đó.
VŨ HƯỚNG DƯƠNG

CÁI CHỖ NGỒI

CÁI CHỖ NGỒI
Ngày 08/08/2014 

              Tôi và Duyên bước vào ngôi nhà thờ.
Không có ai cả. Phía bên tư thất cũng đóng cửa, chắc là Thầy Truyền đạo đã đi vắng. Khung cảnh vẫn yên bình như bao ngày, vẫn những hàng cây tỏa rộng bóng mát giữa nắng hè, vẫn tiếng ve inh ỏi từng hồi như tiếng còi tàu từ phương nào vọng lại, cái giai điệu đó, chúng tôi đã nghe biết bao nhiêu lần rồi mà vẫn thấy thích thú khi gặp lại, hình như mỗi lần mỗi khác nên không hề nhàm chán một chút nào. Trong nhà thờ, tuy không trồng phượng, nhưng phía bên kia vẫn có một vài cây ven đường khiến cho không khí mùa hè càng thêm đậm nét. Những tháng ngày mùa hè vẫn chưa đi qua, và những dấu ấn kỷ niệm của một thời vẫn còn đó…
Hàng ghế cuối chính là hàng ghế kỷ niệm của chúng tôi, ngày mới quen, cũng như sau này. Tôi vẫn nhớ như in hình ảnh Duyên ngồi bên tôi, đôi mắt to và sáng, mái tóc để dài, khuôn mặt tròn tròn đó đã gắn bó với cuộc đời tôi, thật là tuyệt vời. Những tháng ngày ấy, tôi thường hay về dưới này đi nhóm, lúc đầu là những lần về quê thăm nội, dần dần là về để được gặp một người, người mà ai cũng biết…
Chú Tám, hồi ấy, khi biết tôi và Duyên quen nhau, không nói gì. Chú chỉ nói với mọi người, cái thằng nớ được đó. Gặp tôi, chú chỉ cười cười, tuy nhiên, tôi vẫn không thể tự nhiên như thường ngày, vẫn có chút gì đó ngượng nghịu.
Khi đi nhà thờ, chúng tôi thường ngồi ở hàng ghế cuối, không phải là tín đồ yếu đuối hay đi trễ, nhưng vì để cho người khác ít để ý, vì biết thì “quê” lắm. Dĩ nhiên, sau một thời gian, cả Hội Thánh, ai cũng biết cả. Rồi tự nhiên cái chỗ ngồi đó thành ra riêng của hai chúng tôi, nếu hôm nào, chúng tôi đến trễ, mọi người vẫn nhường cho chúng tôi, Hội Thánh vùng quê mà, rất chân chất và đầy yêu thương.
Những khi tôi không về được, Duyên cũng đi học xa, cả hai chúng tôi vẫn thường nhắc nhau về cái chỗ ngồi đó, điều đối với mọi người có vẻ bình thường nhưng với chúng tôi nó lại là nhịp cầu kết nối yêu thương. Sau này, dù đã về trên thành phố, mỗi lần về thăm lại ngôi nhà thờ đã một thời gắn bó ấy, chúng tôi vẫn cố gắng để được ngồi lại cái chỗ mà mình ưa thích. Đôi khi, chỗ đó lại có người khác, chúng tôi lại thì thầm với nhau, không hiểu họ sẽ kết quả như chúng tôi không, thật là những điều thú vị…
-Hai đứa mới về hả?
Chúng tôi quay lại, hóa ra là chú Tám.
-Dạ.
Chú Tám hỏi tiếp:
-Về, răng không ghé qua nhà?
Duyên nói:
-Dạ, con có ghé qua mà không thấy ba, không biết ba đi đâu, thành thử qua nhà thờ chơi một chút, cũng không thấy thầy Truyền đạo đâu.
-Ờ, ổng đi công việc rồi. Sáng ni ba qua vét dùm cái giếng cho ổng, mấy bữa ni trời nóng quá, cạn hết nước. Không có nước dùng, Thầy cô phải đi lấy nước tận xóm dưới, xa lắc.
Tôi hỏi:
-Con hỏi thiệt chú nghe, hồi xưa, chú đi nhà thờ hay ngồi chỗ mô nhất?
-Tao hả, hồi chưa có má con Duyên thì tao ngồi dưới ni. Hồi có rồi, thì hai vợ chồng ngồi đầu hàng ghế thứ hai đó.
Chú dẫn chúng tôi lên, chỉ vào chiếc ghế. Tôi nhìn nó, đã bao năm tháng rồi nhưng những vết mòn vẫn còn hằn lên mặt gỗ như là  dấu ấn của thời gian để lại không bao giờ phai mờ. Tôi hình dung hai con người hạnh phúc, chú Tám và cô Hoa, rồi sau này, có thêm một bé gái, Hữu Duyên, ngồi ở nơi đây. Dù chỗ ngồi là vô tri vô giác, nhưng tôi biết chắc, chú Tám cũng như tôi, cũng yêu quí những kỷ niệm một thời của mình.
Tôi hỏi đùa chú:
-Có hồi mô hai người giận, không ngồi cùng nhau không chú?
-Cái thằng. Chú Tám cười. Tao với má con Duyên mà giận nhau hả. Nói rứa, chớ cũng có khi. Con người mà, cũng có lúc nắng lúc mưa. Hồi mô, giận là má con Duyên ngồi nhích ra một chút, tao biết rứa, cứ ngồi im, rồi người nhích qua, người nhích lại, cuối giờ nhóm, hồi mô cũng huề…
-Hai người tình cảm quá nghe.
-Ờ, má con Duyên hiền hòa, chịu thương chịu khó lắm. Bởi rứa mới chịu được cái tính cứng đầu của tao chớ.
Chú Tám vẫn vậy, dù đã là ông gia nhưng vẫn xưng “tao” với tôi, còn tôi thì vẫn “chú” như hồi nào. Bà nội tôi la hoài, nhưng tôi thấy ngượng thế nào ấy, gọi “chú” quen rồi, mà chú Tám hình như cũng thích như vậy.
Tôi nhìn chú Tám, vui vui, nhưng hình như chú đang nhớ. Có lẽ những kỷ niệm ngày xưa lại tràn về trong tâm trí chú, và tôi biết chắc rằng, dù thời gian có qua đi bao nhiêu nữa, chú vẫn không thể nào quên được người phụ nữ mà Chúa đã ban cho chú, một người vợ tuyệt vời.
Những ngày sau khi cô Hoa không còn nữa, chú Tám vẫn thường ngồi trên hàng ghế thứ hai ấy. Nhiều người biết ý, không bao giờ họ ngồi bên cạnh chú như muốn để cho chú một không gian riêng, một không gian để nhớ lại người vợ thương yêu của mình. Tuy vậy, như lời chú kể lại, sau này chú không còn ngồi một chỗ nữa. Tôi hỏi:
-Rứa chú ngồi chỗ mô?
-Tao ngồi nhiều chỗ lắm.
-Ủa, sao vậy.
-Ờ, không biết sao, chứ ngồi một chỗ miết rồi cũng buồn. Có khi thì ngồi với ông Sáu Danh, hồi bà Sáu vừa mới qua đời. Tao với ổng hồi xưa là bạn cùng lứa, mà bả cũng rứa. Hồi nớ, tao định tán bả mấy lần rồi, nhưng không được, té ra ông Sáu Danh quen với bả từ hồi lâu lắc. Tao giận ổng mấy tháng vì không nói trước, làm tao bị bẻ mặt. Nói rứa chớ rồi cũng chơi với nhau, tuổi trẻ mà. Hai đứa biết không, ở đây, từng gốc cây, ngọn cỏ, từng con đường đều là kỷ niệm của tao với ổng.
-Rồi có hồi tao ngồi với mấy đứa nhỏ, tụi hắn đi nhà thờ ồn lắm, thành thử mình xuống nhắc nhở nó im lặng, không được nói chuyện, mà phải lắng nghe bài giảng. Có khi ngồi với bà Chín Hường, con trai bả mất trong tai nạn giao thông. Tội nghiệp, một mình nuôi bốn đứa con nên người, thành đạt, yêu mến Chúa không phải dễ đâu nghe. Chồng bả, hồi xưa nhỏ hơn chú hai tuổi, nhưng cũng chơi với nhau như bạn bè đồng lứa.
Duyên hỏi:
-Ba ngồi nhiều chỗ rứa à?
-Ờ, thì nhiều chớ. Vui nhất là có lần nhà thờ đang nhóm, mới đây thôi. Có mấy người lạ lạ vô nhà thờ, tao xuống ngồi với họ, té ra là thân hữu, đi thăm bà con ở xóm mình, thấy nhà thờ nhóm họ cũng vô ngồi coi thử. Nói chuyện, làm chứng miết rồi cũng được hai người tin Chúa. Tao mừng lắm. Từ đó, tao cũng biết nhiều hơn, hóa ra ai cũng có tâm sự hết, cũng có nỗi lo hết. Chỉ có trò chuyện, gần gũi, thì mới hiểu được cuộc sống của nhau, biết để mà cầu nguyện, để mà sẻ chia. Đó là trách nhiệm, nghĩa vụ của mình mà, những người con Chúa với nhau mà không hiểu nhau, không giúp được nhau thì thiệt là vô lý…
Gần bên những người vừa mất người thân, chú Tám hiểu thêm được một điều, mất mát cũng là qui luật của cuộc sống. Sớm muộn gì rồi cũng sẽ có một cuộc chia tay giữa hai người và điều quan trọng là trong những ngày gần nhau trước đó, chúng ta đã đối xử với nhau như thế nào, có để lại những gì đẹp đẽ cho nhau không? Và chúng ta có giữ vững được đức tin để gặp nhau trong Nước Chúa không? Gần mấy đứa trẻ nhỏ, chú Tám lại nhớ đến Duyên, đứa con gái yêu thương của chú. Nói chuyện, chơi đùa với chúng, hình ảnh Duyên như vẫn còn bên chú, rồi hình cô Hoa như vẫn hiện diện cùng chú trong cuộc sống, chú bỗng cảm nhận được tình yêu thương chính là mấu chốt để cuộc sống này có nhiều ý nghĩa. Ngồi tâm sự cùng các thân hữu, chú mới thấy được cuộc đời không có Chúa bất hạnh như thế nào, họ vẫn mãi đi tìm, loay hoay trong khoảng hẹp của cuộc đời và hạnh phúc chân thật hình như là một món quà quá xa xỉ đối với những người chưa biết Chúa.
Chú Tám nhìn cái ghế cuối nhà thờ:
-Ghế kỷ niệm của hai đứa đây phải không? Răng, nhìn hắn thì nhớ nhiều lắm hả. Bữa mô nhà thờ thanh lý mấy cái ghế, ráng để dành tiền mua cái ghế ni đem về làm kỷ niệm, mười triệu một cái nghe con.
Cả ba chúng tôi cùng cười. Cái chỗ ngồi tưởng chừng như vô nghĩa nhưng thật ra rất quí giá đối với những ai trân trọng quá khứ. Riêng với chú Tám, chỗ ngồi kỷ niệm của chú không còn là của riêng chú nữa, bây giờ nó gắn liền với nhiều người, mỗi người mỗi hoàn cảnh, nhưng tất cả đều là sự sẻ chia chân thành của những tình cảm, những cung bậc yêu thương, mà cuộc sống rất cần những điều như vậy.
Ờ nhỉ, cái chỗ ngồi tuy bình thường nhưng đôi khi lại trở thành một mối dây kết nối tình yêu thương của nhiều người, tôi và Duyên chắc chắn cũng sẽ làm như vậy, bắt đầu cuộc sẻ chia yêu thương với những người ngồi bên cạnh…
VŨ HƯỚNG DƯƠNG

BÍ MẬT CỦA ÔNG TÁM

BÍ MẬT CỦA ÔNG TÁM
Ngày 05/06/2014 

Thằng Huy chồm đầu nhìn qua vườn nhà ông Tám, nó thấy ổng nằm trên cái giường tre, ngủ say sưa dưới gốc cây nhãn. Thoải mái thiệt, hóa ra nghèo như vậy mà sướng. Bên nhà nó, nóng quá chịu không nổi. Buổi trưa, cái khối bêtông trở thành cái lò nướng bánh mì, càng mở quạt thì lại càng nóng, nó phải nằm ở dưới nền gạch, hy vọng tìm được chút hơi mát. Thật là trái ngược, vườn nhà ông Tám, gió từ bờ sông thổi lên từng hồi, thấy mấy cành mận rung qua rung lại mà nó bắt thèm.
Thật ra, thằng Huy bắt đầu “chú ý” đến ông Tám đã lâu, từ khi ổng mới đi nhà thờ. Hồi đó, nghe mọi người nói ổng gia nhập đạo Tin Lành, họ đã xì xào nhiều, vào đạo chắc sẽ được cho gạo, tiền; chính vì thế nên ông Tám mới đi chớ. Nói thì nói vậy, nhưng cũng không ai trách ông, vì nhà ổng nghèo rớt mồng tơi, kiếm chút gạo ăn cũng là chuyện bình thường. Nhưng rồi, nó cũng đâu thấy bên nhà thờ giúp gì cho ổng đâu, chỉ thấy lâu lâu có mấy người tới, hát hò to lắm, rồi nói “amen, amen”. Mỗi lần như vậy, ông Tám vui lắm. Ông chuẩn bị bàn ghế, quét nhà sạch sẽ, dọn dẹp khu vườn, y như đón tổng thống vậy(?). Kỳ rày, ổng siêng đọc sách hơn hồi xưa, thằng Huy thấy cứ chiều chiều, hễ rảnh rỗi thì ông Tám hay ra ngồi dưới gốc mận đọc cái quyển sách dày cộm, cứ đọc một chút, ngồi lại nghỉ ngơi, trông ông có vẻ vui lắm. Không biết cuốn sách gì mà lạ vậy?
Ông Tám đi nhà thờ, siêng năng lắm. Sáng Chúa Nhật nào, thằng Huy cũng thấy ổng dậy sớm, tay cầm cuốn sách là lạ đó, vui vẻ chào mọi người trên đường đi. Khi về cũng vậy, dù nhiều khi, trời nóng, mồ hôi chảy đầy người, nhưng ông vẫn không có vẻ gì là mệt nhọc, thậm chí còn hát nữa, mà giọng hát của ông Tám thì khỏi nói, như cái loa bass nhà thằng Huy bị bể bao đời…
Ông Tám thay đổi nhiều lắm, ổng không còn ghé quán bà Sáu Đắng trước ngõ để uống rượu nữa. Đôi khi nó nghĩ, hay là ổng sợ mọi người thấy nên mua về nhà uống, nhưng bà Sáu khẳng định với nó là ông Tám bỏ uống rượu luôn rồi. Ổng có ghé quán bà chơi, ổng nói, bữa ni ổng đã tin Chúa, không được uống rượu, nên có ghé thì cũng chỉ là để mua mấy đồ dùng lặt vặt, hỏi thăm sức khỏe, uống ly nước rồi về, chẳng qua là cái tình hàng xóm láng giềng thôi.
Thằng Huy ngạc nhiên nhất là cái hôm ông Tám xuống nhà bà cụ Năm Hường ở cuối xóm. Bà Năm Hường hai mắt đã không còn thấy đường, con cháu không có, sống trong một căn nhà lụp xụp do hàng xóm làm cho. Bà sống chỉ nhờ sự giúp đỡ của chính quyền và mấy người chung quanh. Ông Tám đến thăm và cho bà mấy lon gạo với một số tiền nhỏ, tuy không nhiều nhưng bà rất mừng. Nhưng thằng Huy không thắc mắc về điều đó, cái nó thắc mắc là ông Tám lấy ra đâu gạo, tiền để cho bà Hường, vì ông cũng thuộc diện đói nghèo mà, ăn không đủ thì lấy đâu mà giúp người ta. Mà chuyện này, lại làm ông vui lắm, nó thấy ông khi về, vừa đi vừa hát, có vẻ sung sướng lắm, quả là kỳ lạ. Chắc chắn là phải có bí mật chi đây, thật là khó hiểu.
Nghĩ đi nghĩ lại, kinh tế nhà ông Tám cũng không có gì khá lên sau khi đi nhà thờ, chỉ thấy ổng vui hơn trước. Hồi xưa, mỗi lần gặp nó, ông đều làm lơ, xem như không thấy. Nó biết ông không ưa gì nó, cái thằng hay chui rào, qua nhà hái trộm mận, nhãn… của ông, mà chúng lại là miếng cơm của ông. Có lần ông bắt gặp nó đang hái trộm mận, ông qua nhà nói với ba mẹ, nó bị đánh cho một trận, rồi đâu lại vào đó. Thật ra, nó cũng chẳng phải là đứa phá phách, chỉ thèm ăn vặt một chút thôi, vì thế mỗi lần nó cũng chỉ hái chục quả là nhiều, chứ đâu muốn phá hoại nhà người ta. Tuy nhiên, nó “vi phạm” nhiều lần quá, nói hoài cũng chán, thành thử cuối cùng ông cũng “chấp nhận” chuyện nó hái trái cây nhà ông là chuyện bình thường, dù vậy, ông vẫn rất khó chịu khi thấy nó lảng vảng trước nhà mình.
Lần nay thì khác, nó mới chui qua rào, thì ông đã thấy rồi. Ông nói:
- Con đó hả Huy, lâu nay không thấy qua nhà ông Tám chơi?
“Lâu nay”, với “chơi”, khiến nó cảnh giác, bởi nó có bao giờ qua nhà ông chơi đâu, chỉ là để hái trộm thôi. Trong lúc nó còn đang phân vân không biết trả lời thế nào thì ông Tám nói tiếp:
- Nì, mấy cây mận bữa ni nhiều trái lắm nghe, có rảnh, con hái dùm ông. Ăn bao nhiêu thì ăn, còn lại để ông đem ra cho bà Sáu bán kiếm ít đồng.
Chà, cái chiêu này cũng được đây, có mận ăn mà không bị mang tiếng hái trộm, nó thầm nghĩ, phải chi ông Tám nói sớm sớm thì nó đâu phải chui rào chi cho mệt…
Kể từ đó, nó không còn hái trộm nữa. Ngồi bên nhà ngó qua, hễ khi nào thấy mận chín nhiều, nó tự giác qua hái giúp ông, dĩ nhiên là nó cũng tự thưởng cho mình nữa, thậm chí, có khi nó đem mận ra nhà bà Sáu bán giúp ông. Tuy nhiên, trong lòng nó cứ thắc mắc một điều là ông Tám có bí mật gì mà lạ quá. Ông thay đổi rất nhiều, vui vẻ hơn, hiền hòa, mà chẳng còn than phiền hay cau có như trước. Chính ba má nó ở nhà cũng nói như vậy. Mà nói gì thì nói, chẳng ai biết được lý do gì làm ông Tám thay đổi, hay là ổng có của kín cha mẹ để lại mà không ai biết, đoán thì đoán vậy, nhưng cuối cùng nó cũng đành chịu.
Chiều nay, nó đánh liều qua nhà ông Tám. Ngồi chơi một chút, nó hỏi:
- Con hỏi thiệt ông Tám nghe?
- Chuyện chi?
- Ông đi Tin Lành, họ cho ông nhiều tiền, gạo lắm hở?
Ông Tám cười ngặt nghẽo:
- Thằng cha mi, ai nói rứa, hóa ra ông tin Chúa là vì tiền hở?
- Chứ răng con nghe người ta nói rứa mà.
- Thì người ta đồn tầm bậy. Làm chi có cái đạo nào đem tiền, gạo ra dụ người khác.
- Rứa tiền gạo đâu mà ông Tám cho bà Hường, rồi răng ông Tám bỏ rượu được, con nghe người ta nói, uống rượu quen rồi, khó bỏ lắm.
- Ờ, khó bỏ lắm con à.
- Rồi làm răng ông bỏ được?
- Cái nớ thì cũng không biết nữa. Ông Mục sư trên nhà thờ nói, tin Chúa không nên uống rượu, uống rượu ảnh hưởng sức khỏe, say xỉn làm hại mình, hại người khác. Ổng biểu phải cầu nguyện, thật lòng xin Chúa ban cho mình ý chí để bỏ rượu. Ông nghe lời, cầu nguyện, tự nhiên thấy thanh thản, không thèm nữa, thì bỏ thôi chứ có chi đâu. Mà thiệt ra, hồi mới đầu cũng có khi thèm ghê lắm, nhưng nghĩ đi nghĩ lại, mình lớn rồi, chẳng lẽ cái chuyện bỏ rượu mà không làm được thì làm sao nói chuyện với mọi người, mà mình đã là con Chúa rồi… Vậy mà từ từ rồi cũng bỏ được. Nói cho nghe, trước khi tin Chúa, ông cũng nhiều lần muốn bỏ, nhưng mà không được. Đến như bà Sáu Đắng đó, mà cũng biểu ông đừng uống nữa, nhưng hắn như có tà, đã uống rồi, cứ thèm hoài, khó bỏ lắm…
Mà cầu nguyện là răng?
- Là nói chuyện với Chúa đó.
Ông nói chuyện được với Chúa?
- Chớ răng, hễ ai là con Chúa thì nói chuyện được với Ngài, giống như mình nói chuyện nè…
Thằng Huy trố mắt, ngạc nhiên vô cùng, nó không ngờ ông Tám bắt đầu từ khi đi nhà thờ lại giỏi như vậy.
- Còn chuyện ông giúp bà Hường?
- Cái đó còn dễ hơn nhiều. Xuống đây.
Ông Tám dẫn thằng Huy xuống nhà dưới chỉ vào cái lu nhỏ để ở một góc nhà, có cả một cái lon Coca.
- Chi rứa ông?
- Bí mật là ở đó. Mỗi lần nấu cơm, ông bốc bớt một nhắm gạo bỏ vô hủ, lâu lâu được ít lon, gói ghém đem xuống cho bà Hường, hoặc cho người khác, ai nghèo hơn mình đó. Còn tiền hả, cái lon Coca đó, mỗi lần đi chợ, ông bỏ vô đó một hai, nghìn. Tích tiểu thành đại, góp gió thành bão mà con, lâu ngày cũng có được một ít chớ.
- Ơ, rứa mà lâu nay con tưởng ông có ai cho.
- Cha mi, ai mà cho ông. Mà có cho thì ông cũng để dành cho người khác, chứ ông thì không cần lắm, sống như ri đủ rồi. Ngó thử, nhà ông không có quạt, nhưng buổi trưa hỏi thử nhà mô mát hơn không? Nghèo như ông cũng sống qua ngày, cũng giúp được người khác, rứa là thỏa lòng rồi. Chúa Nhật, có gạo ăn hay không, không cần biết, áo quần chỉnh tề, đàng hoàng, sạch sẽ, tới nhà thờ, thờ phượng Chúa, sung sướng quá rồi chứ còn chi nữa.
Thằng Huy ngồi trên cái giường tre, lắc lư cái chân, hỏi:
- Mấy bữa con thấy ông Tám đọc cái quyển sach dày lắm, sách chi rứa?
- Ủa, mi theo dõi ông hả, cái thằng thiệt. Sách bí mật đó.
- Bí mật?
- Nói chơi thôi, bí mật chi chớ. Ai tin Chúa cũng nên đọc, nên học, phải đọc, phải học. Kinh Thánh đó con, lời của Chúa được chép lại cho mọi người đọc, trong nớ dạy nhiều điều hay lắm. Có điều ông chưa hiểu hết, chỉ đọc mấy chỗ dễ hiểu thôi. Khi mô hiểu biết nhiều, ông kể cho nghe.
- Còn bữa trước, con thấy ông với mấy người nhà thờ hát chi chi đó là răng?
- Hát Thánh Ca đó. Ở trong Hội Thánh, người ta thường đến thăm nhau, cùng nhau hát những bài hát ca ngợi Chúa, cầu nguyện cho nhau…
- Cầu nguyện? Cầu nguyện là nói với Chúa phải không ông?
- Cái thằng, mới nói lúc này mà nhớ cũng giỏi hỉ? Cầu nguyện xin Chúa ban phước cho mình, giữ gìn mình, thêm cho mình sức mạnh để mình không làm điều sai, có sự khôn ngoan để làm điều tốt cho mình, cho mọi người. Cầu nguyện xin Chúa ban cho sự bình an…
- Con thấy ông Tám biết đủ thứ quá, mà răng ông mới đi nhà thờ có mấy tháng mà biết nhiều ghê rứa?
- Thì mỗi Chúa nhật đi nhà thờ là mỗi lần học hỏi, ở nhà đọc Kinh Thánh là để hiểu biết thêm… Còn cái ni nữa nè, quan trọng lắm.
Ông Tám vừa nói vừa tỏ ra khoái chí lắm. Thằng Huy rất tò mò:
- Chi rứa ông?
- Ông được tham gia lớp học, vài bữa  nữa tốt nghiệp sẽ đi làm chứng cho mọi người.
- Ông làm chi mà phải ra tòa làm chứng?
- Cái thằng, ra tòa chi, làm chi có ra tòa. Làm chứng là… là đi nói về Chúa cho mọi người đó. Làm chứng là nói về những gì mình đã có được khi tin Chúa, ví dụ như ông bỏ được rượu nè, biết yêu thương, quan tâm đến người khác nè. Thôi để, hôm nào học xong đầy đủ, biết nhiều rồi nói mới được. Chừ ông vẫn còn yếu lắm, chưa hiểu biết nhiều đâu.
Nói rồi, ông Tám phấn khởi lắm, ông vào trong nhà lấy cho thằng Huy mấy quyển sách nhỏ: Lời An ủi, Bảy điều cần nhất trên đời… Ông dặn đem về nhà coi rồi sẽ hiểu thêm Đạo Chúa, chứ bây giờ ông nói chưa suông sẻ được.
- Nhớ giữ mấy cuốn Truyền đạo đơn cẩn thận nghe, bữa sau cho người khác đọc nữa.
- Truyền… đơn hả ông ?
- Cái thằng, Truyền đạo đơn chớ, làm chi có truyền đơn ở đây. Truyền đạo đơn là sách nói về truyền đạo, về đạo Chúa đó. Ông chỉ mới tin Chúa, mày hỏi hoài, ông bí, bữa sau không cho ăn mận nữa đó nghe.
Thấy ông Tám cười khoái chí mà thằng Huy cũng cười theo. Nó nói:
- Ông cho con bỏ bùng binh như ông với nghe, con cũng muốn làm chi đó giúp người ta.
Ông Tám cười:
- Ờ cũng được, nhưng phải bỏ riêng, không được bỏ chung, tiền ai nấy cất. Để coi ai để dành nhiều hơn chớ.
- Còn chuyện ni nữa, đi nhà thờ có khó không ông?
- Chuyện dễ như ăn ớt, ờ mà không phải, ăn ớt cay lắm, dễ như… ăn mận, mà mận đàng hoàng chớ không phải hái trộm nghe.
Ông Tám vừa nói vừa cười, thằng Huy biết ông nói nó, nhưng nó không giận vì ông  không có gì là trách nó cả.
- Muốn đi thì Chúa Nhật ni, xin phép ba mẹ rồi đi với ông, ở đó vui lắm và ai cũng tốt cả. Già, xấu như ông mà họ còn đón tiếp niềm nở, huống chi là con, đẹp trai, phông độ…
Cả hai ông cháu cười vang. Vậy là thằng Huy đã biết được bí mật của ông Tám, cái bí mật bình thường quá, nhưng không phải ai cũng có, nó biết chắc chắn là vậy…

VŨ HƯỚNG DƯƠNG

DÌ NĂM

DÌ NĂM 
Ngày 11/04/2014 

 Mới vào tới cổng đã nghe tiếng dì Năm ào ào lên rồi:
-Thằng Vũ đâu, ra đây, đem đồ vô cho dì với.
Vừa thấy tôi, dì kêu lên:
-Ôi, cái thằng cháu tôi, sao mà nhanh lớn và đẹp trai quá, tới đây cho dì thương một cái.
Tôi chưa kịp phản ứng gì thì dì Năm đã làm một cái “chíp” trên má tôi rồi, khiến tôi lúng túng không biết làm thế nào. Má tôi cười:
-Hắn dị rồi, hắn là thanh niên rồi đó dì nghe.
Dì Năm nhìn đi nhìn lại tôi:
-Ừ hé, cái thằng ngó rứa mà lớn nhanh thiệt. Nè, quà của con đây.
Dì đưa cho tôi một giỏ toàn trái cây, xoài, ổi, chuối… có lẽ gần cả chục ký.
-Biết quà của ai không?
-Ủa, chớ không phải của dì hả?
-Cái thằng, nhà dì trồng có mấy cây thôi, chưa tới mùa, của Hồng Phượng đó. Cái con thiệt, nghe dì nói xuống nhà anh Vũ là nó hối mẹ nó hái gởi xuống liền.
Má tôi hỏi:
-Hồng Phượng mô rứa Vũ, bạn học hở?
-Đâu có má.
Dì Năm cười:
-Chị không biết hả? Cái thằng tốt số lắm. Hôm hè năm ngoái nhờ nó lên coi nhà mấy bữa đó. Con bé trước nhà kết hắn lắm, mấy cũng “anh Vũ, anh Vũ” hết. Mà nè, dì thấy hắn được đó Vũ nghe.
Má tôi cười:
-Thôi, đừng chọc hắn nữa, hắn còn học chưa xong mà. Dì ni, hồi mô cũng rứa.
Mà thiệt, hễ cứ mỗi lần gặp dì Năm là dì cứ: “con bé này được, con bé kia được…”, tôi thường gọi là “Chương trình mai mối”, bởi lúc nào gặp tôi, dì cũng “bổn cũ soạn lại”, không hề thay đổi.
             Chuyện dì Năm tin Chúa cũng rất bất ngờ. Ngày xưa, hồi dì chưa có chồng, hay qua nhà chơi với ba má tôi. Má tôi rủ dì đi nhà thờ, dì thích lắm. Tất cả các sinh hoạt của Hội Thánh, dì đều nhiệt tình tham gia. Một hôm, khi Ban hát Thanh niên lên ráp nhạc, Mục sư Quản nhiệm thấy dì lạ nên hỏi, mới biết dì chưa cầu nguyện tin Chúa. Ông không cho dì hát, mà yêu cầu dì phải cầu nguyện tin Chúa thì mới được vào Ban hát lễ Thanh niên. Dì Năm không nói gì, nhưng sau lần đó, dì không chịu đi nhà thờ nữa, dù ba má tôi có nói gì đi nữa. Tôi cũng biết tính dì, xởi lởi, nhưng cũng rất nóng, hay tự ái. Ba má tôi thấy vậy, đành im lặng, chờ cho qua một thời gian rồi sẽ tiếp tục làm chứng cho dì tin Chúa.
Từ hồi dì Năm có chồng, dì thay đổi hẳn, dịu dàng, trẻ trung hẳn lên. Dì chuyển cơ quan, về quê chồng sinh sống. Lúc này, dì cũng chưa tin Chúa. Một hôm, dì ghé nhà tôi chơi, sẵn tiện, má tôi mới làm chứng cho dì. Dì chỉ im lặng nghe mà không nói một câu. Một lúc sau, má vào trong phòng tìm mấy cuốn Truyền đạo đơn để tặng cho dì xem thêm, lúc trở ra thì đã thấy dì Năm nằm trên chiếc đi văng ngủ ngon lành, chắc là quá mệt sau một ngày đi đường. Má tôi lẳng lặng đắp cho dì chiếc mền, và dì nằm ở đó cho đến sáng hôm sau, người vô tư sướng thật, má tôi nói vậy.
Tuy nhiên, điều bất ngờ là Chúa nhật đó, dì cũng chịu đến nhà thờ cùng gia đình chúng tôi. Cuối giờ thờ phượng, mục sư kêu gọi thân hữu, nếu bằng lòng tiếp nhận Chúa là chủ đời sống mình thì bước lên trên để ông và Ban Truyền giáo cầu nguyện cho, thì dì Năm tự động đứng lên. Ba má tôi cũng không ngờ dì mạnh dạn như vậy. Cả ngày hôm đó, nhà tôi như mở hội, bởi dì Năm dù không bà con, nhưng thân thiết với nhà tôi như ruột thịt vậy. Thật ra là ba má tôi rất lo vì không biết dì có đứng vững được không, tuy nhiên, đó chỉ là lo xa. Càng ngày, dì càng sốt sắng, yêu mến Chúa, trở thành nòng cốt của Hội Thánh nơi dì sinh sống.
Việc dì có chồng cũng rất vui. Dù nhỏ hơn má tôi chỉ vài tuổi, nhưng dì “đứng” khá lâu, gần bốn mươi tuổi rồi mà chưa có chồng. Thật ra, hình thức bên ngoài dì đâu có tệ, cũng dễ nhìn lắm, nhưng chắc là do cái số, dì nói vậy. Thế rồi một hôm, dì qua nhà tôi mời cả nhà dự đám cưới, nhờ má tôi làm phụ dâu. Chú r là một người cũng khá đứng tuổi, gần năm mươi rồi. Ba tôi hỏi:
-Sao tới giờ này mới chịu lấy chồng đó?
Dì Năm cười:
-Thì em cũng chờ mấy thằng trai trẻ, cuối cùng chẳng có đứa nào ưng hết thành thử vơ đại thằng cha “khú đế” ni.
Nói là vơ đại, chứ thực ra chuyện tình của dì với chú Phu cũng lãng mạn lắm. Hôm mẹ đau nằm trên bệnh viện, dì lên đó trực suốt ngày suốt đêm không nghỉ. Còn chú Phu, lúc đó đi thăm một người bạn bị tai nạn. Lần nào, đến thăm bạn, chú cũng thấy dì Năm loay hoay bên mẹ, lúc thì dọn vệ sinh, lúc thì cho ăn, cho uống, lau người, quạt cho mẹ… Hỏi thăm ra, anh chị em của dì nhiều, nhưng đều ở xa, còn dì chưa có gia đình nên đành xin nghỉ không lương để lo cho mẹ. Những lần gặp gỡ sau đó, hai người tìm hiểu và đã quyết định đến với nhau. Chuyện là vậy.
Chuyện dì Năm làm chứng cho chú Phu tin Chúa cũng khá ly kỳ. Ban đầu, khi hai người mới cưới, chú Phu tuy để cho dì Năm đi nhà thờ thoải mái, nhưng năm lần bảy lượt, chú từ chối, không chịu đi cùng dì. Nói gì thì nói, chú vẫn cứng như đá, không hề lay chuyển. Khi Thầy Truyền đạo Quản nhiệm và Ban Thăm viếng Hội Thánh đến nhà chơi, dì nói:
-Thầy với mấy anh ngó đó, chồng em cứng đầu lắm.
Thầy Truyền đạo hỏi:
-Ảnh cứng đầu ra răng?
Dì nói:
-Thì cái đầu ổng cứng lắm, cầm viên gạch đập vô, đầu không bể mà gạch nát vụn.
Hóa ra dì nói “cứng đầu” là có nhiều nghĩa. Nghĩa bình thường ai cũng biết, đó là không nghe lời khuyên bảo của dì. Nghĩa thứ hai là đầu chú cứng thiệt, chú là võ sư mà, thường luyện công và hay biểu diễn màn lấy gạch đập vào đầu.
Thấy chú Phu không chịu đi nhà thờ, dì Năm buồn lắm. Một hôm nọ, không biết nghe ai bày, hay là tự nghĩ ra, dì Năm nói với chú:
-Anh không đi nhà thờ chắc ngại phải không?
-Ngại chi?
-Thì biết đâu tới đó gặp người yêu cũ, tình xưa nghĩa cũ, khó ăn khó nói với vợ…
-Đâu có.
-Rứa thì mắc chi không đi nhà thờ, ai ăn thịt anh?
Vốn người thật thà, chú lại mắc lừa dì, cũng vì để chứng minh mình không có gì, chú Phu quyết đi nhà thờ với dì Năm. Sau bữa đó chú vui lắm vì thấy vô nhà thờ nghe các ban hát tôn vinh Chúa chú thích lắm. Tuy vậy, chú vẫn không chịu tin Chúa. Người ta làm chứng cho chú hoài, cuối cùng cũng mệt mỏi, nhưng được một điều là chú vẫn thường xuyên có mặt ở nhà thờ mỗi sáng Chúa nhật cùng với vợ con, những công tác gì Hội Thánh cần, chú đều tham gia nhiệt tình, có khi còn tốt hơn những người khác nữa.
Lâu quá thành quen, không ai còn nhớ chú Phu là người chưa tin Chúa. Một hôm, ông Thư ký Hội Thánh hỏi:
-Anh đi nhà thờ lâu rồi, răng chưa học giáo lý, nhận báp tem để dự Tiệc Thánh.
Chú Phu cười:
-Tôi chưa cầu nguyện tin Chúa mà.
-Ủa, vậy à. Đúng rồi, anh chưa cầu nguyện, nhưng đi nhóm cả năm rồi mà răng chưa tin Chúa.
-Thì có ai nói với tôi đâu.
Hóa ra, lúc chú chưa cảm động thì người ta làm chứng ào ào, còn lúc chú muốn tin Chúa thì không ai nói gì cả. Và tất nhiên, sáng Chúa nhật hôm đó, chú Phu bước lên cầu nguyện tin Chúa, làm ai cũng ngạc nhiên, à, hóa ra cái ông này hồi nào đến giờ chưa tin Chúa.
Từ đó gia đình dì Năm như có thêm một cuộc đời mới. Chú Phu, nhờ dạy võ nên quen biết nhiều, mà chú lại hiền lành nên được nhiều người quí trọng, chính vì vậy, chú làm chứng cho người ta tin Chúa dễ dàng lắm. Hội Thánh đã mời chú vào Ban Chứng đạo để cùng những người khác ra đi làm chứng về Chúa.
Chuyện dì Năm làm từ thiện cũng khá thú vị. Một lần đi công tác trên vùng núi về, giữa đường xe bị hư, dừng lại sửa mất mấy tiếng đồng hồ. Ngồi chơi không buồn quá, dì vào trong xóm hỏi thăm có gia đình tín đồ nào, ghé chơi cho vui. Nơi đây, đa số là đồng bào dân tộc, người ta giới thiệu cho dì gia đình nọ có hai mẹ con đều là tín đồ Tin Lành. Khi đến nơi, dì thấy người mẹ đang chăm sóc đứa con đang bị đau nặng. Hỏi ra mới biết đứa trẻ bị sốt mấy ngày rồi, thuốc thang cũng có, chưa nhưng thấy giảm. Dì làm chứng thêm cho họ, và cùng người mẹ cầu nguyện cho đứa trẻ. Sau khi cầu nguyện khoảng mười phút, đứa trẻ bỗng tỉnh dậy, đòi ăn, đòi uống. Mẹ em mừng lắm, cám ơn dì Năm rối rít. Dì cũng cảm động lắm, liền móc ví, còn bao nhiêu tiền cho họ hết, nói là để bồi dưỡng cho em mau lại sức. Mấy tháng sau, hai mẹ con tìm xuống nhà dì thăm, dì đã dẫn họ đến nhà thờ làm chứng cho cả Hội Thánh nghe về việc Chúa đã chữa lành cho em bé.
Từ đó, tự nhiên tấm lòng dì Năm lại hướng về các anh chị em tín hữu người dân tộc. Cách đây mấy tháng, dì xin nghỉ hưu trước tuổi. Ai cũng trách dì dại, vì thời buổi này xin việc nhà nước rất khó, thậm chí còn khá tốn kém. Tuy vậy, dì vẫn cương quyết, nói mình làm đã đủ, bây giờ đến giai đoạn hầu việc Chúa. Lấy số tiền đã nhận khi nghỉ hưu, dì mở một tiệm bán bánh mì, bởi hồi xưa, mẹ dì cũng là người bán bánh mì ngon có tiếng. Tiếng lành đồn xa, không mấy chốc, tiệm bánh mì của dì rất đông khách, mặc dù dì bán có cao giá hơn ở những nơi khác. Dầu có bán đắt, nhưng cứ đến Chúa nhật là dì đóng cửa đi nhà thờ, tuyệt đối không bán cho ai hết. Mà dì bán cũng thong thả lắm, buổi sáng từ 4g đến khoảng 11g, buổi chiều từ 5g cho đến khuya, thì giờ còn lại, dì nghỉ ngơi, đi chợ. Dì buôn bán những không quên nghĩa vụ của mình, hễ ai tới mua bánh mì, dì thường hay làm chứng, và tặng Truyền đạo đơn cho họ. Cũng nhờ đó mà dù chỉ ở nhà, dì cũng làm chứng được cho khá nhiều người. Nhưng đó cũng chưa phải là điều đáng nói, cứ bán được vài ba tháng, dì lại đóng cửa đi “du lịch”. Nói là đi du lịch cho sang chứ thật ra vất vả hơn ở nhà, bởi dì thường du lịch ở các vùng sâu, vùng xa. Mỗi chuyến đi như vậy tốn kém lắm. Số tiền dành dụm được, dì mua gạo, mì chính, dầu ăn, quần áo, sách vở… đem lên tặng cho các gia đinh tín hữu dân tộc khó khăn. Ban đầu không ai để ý, dần dần chính quyền thấy dì đi hoài, họ cũng thắc mắc. Dì trả lời cho họ rõ ràng đây là tiền để dành của dì trong mua bán, dì cũng mời họ xuống nhà chơi để họ thấy thực tế. Khi họ yêu cầu dì giúp luôn cho những đồng bào khó khăn, dì nói sẵn lòng, vì tất cả mọi người đều là con của Chúa mà, chỉ có điều khác nhau là tín hữu biết đường trở về cũng Chúa, còn những người khác thì chưa. Từ đó, dì Năm như trở thành người bạn của họ, hễ có việc dì khó khăn, thì họ cũng nhờ đến dì, mà dì cũng rất hay, hễ làm được điều gì thì dì cũng hết lòng, không ngại ngần gì cả…
Chuyến đi xuống thăm nhà chúng tôi cũng nằm trong hành trình du lịch của dì. Buổi chiều hôm đó, dì và má tôi cùng ra chợ mua thêm một số đồ cần thiết để đem lên giúp anh chị em dân tộc. Những chuyến đầu tiên, dì chỉ có một mình, chứ bây giờ thì thong thả hơn. Đã có nhiều người biết đến công việc của dì, họ không đi được như dì nên thường góp phần, để cùng dì làm từ thiện. Ngay chính nhà tôi cũng vậy, lúc nào cũng có một khoảng dành riêng để góp với dì, không những vậy, ba má tôi còn vận động những người quen, kể cả những người không tin Chúa để có thêm nhiều nguồn lực, chính vì vậy, gia đình tôi, ngoài ý nghĩa tình thân ra, còn là một điểm tiếp trợ cho dì trong công tác từ thiện nữa.
Không những giúp cho các anh chị em tín hữu dân tộc, dì Năm còn giúp cho một số Hội Thánh nữa. Một lần nọ, khi đến thăm Hội Thánh vùng quê, dì thấy nhà thờ được xây dựng mới, khang trang, dì mừng lắm. Tuy nhiên, phía trước nhà thờ là một con kênh lớn, muốn vào nhà thờ phải đi nhờ cây cầu của một ngôi chùa bên cạnh, còn không thì phải đi vào đường hẻm phía sau nhà thờ. Dì buồn lắm, vì nhà thờ là nơi thờ phượng Đức Chúa Trời, Đấng của Sự sáng mà lại phải đi nhờ cây cầu của thế gian… Dì liền mở cuộc vận động quyên góp tiền làm cho nhà thờ một cây cầu.
Trong túi dì lúc đó chỉ có hai triệu rưỡi, nhưng dì mạnh dạn đến nhờ một kỹ sư thiết kế cho một cây cầu. Ông ta hỏi:
-Chị có bao nhiêu tiền mà đòi làm cầu?
Dì trả lời tỉnh bơ:
-Hai triệu rưỡi.
Ông ta cười:
-Hai triệu rưỡi của chị thì chỉ đủ trả tiền bản vẽ thiết kế, lấy đâu mà làm cầu.
Dì trả lời chắc nịch:
-Nhưng tôi tin chắc vào Đức Chúa Trời của tôi, Ngài sẽ cho tôi đủ tiền để làm.
-Vậy chắc chị sẽ làm được, bởi tôi thấy chị có vẻ cương quyết.
Và cuối cùng ông ta cũng làm giúp mà không lấy một đồng tiền công nào.
Dì về nhà vận động anh chị em, bà con, mỗi người một ít. Khi trong Hội Thánh có một cô bị ung thư, sắp về nước Chúa, dì đến thăm và kể chuyện cây cầu cho cô ấy nghe. Cô ấy cảm động quá liền dâng hai trăm ngàn đồng, cả gia đình thấy vậy cũng góp thêm. Và rồi không biết dì vận động thế nào mà người ta góp cũng nhiều, thậm chí có một cô ở cùng Hội Thánh dâng đến hai mươi triệu đồng… Thế rồi một năm sau, cây cầu trị giá một trăm bảy mươi triệu đồng của Hội Thánh đã được khánh thành, Mục sư Quản nhiệm mừng quá không biết nói thế nào, chỉ biết cảm tạ Chúa. Từ đó, con dân Chúa không còn phải nhờ vả người khác, đã có thể đàng hoàng trên cây cầu của chính mình mà vào nhà thờ thờ phượng Chúa.
Sáng hôm sau, má tôi bảo:
-Vũ, con chở dì Năm ra bến xe, nhanh lên chớ không thì trễ đó.
Vừa mới chở dì ra khỏi cổng, dì Năm nói:
-Cái con bé kỳ rày dễ thương lắm Vũ nghe.
-Bé mô rứa dì?
-Thì con Hồng Phượng chớ ai.
Thôi rồi, dì Năm yêu dấu của tôi lại bắt đầu “Chương trình mai mối” của mình, còn tôi thì đang phải chở dì, làm sao mà trốn được đây…
                                                                              Vũ Hướng Dương