Thứ Năm, 26 tháng 12, 2013

TRỞ VỀ NGÀY GIÁNG SINH

TRỞ VỀ NGÀY GIÁNG SINH…
Ngày 23/12/2013
Vũ Hướng Dương


    Hắn ngồi một mình bên lề đường. Chiếc xe khách đưa hắn đến đây đã biến mất trong đám bụi đỏ mù mịt đằng xa kia. Một chiều không nắng, một chiều chỉ có gió và lạnh, mùa đông mà. Bầu trời hình như chỉ phủ một màu xám, ở phía nào cũng vậy, và cái không gian tĩnh lặng như càng thêm co cụm lại khi những cơn gió lạnh chợt về đâu đó. Hôm nay là ngày Giáng sinh, hắn vẫn còn nhớ rõ, và hắn cũng vui vui một chút khi cái đám học trò cùng đi xe đang kháo với nhau về chuyện thi học kỳ. Hắn tự hào, ít ra hắn cũng còn nhớ được những ký ức của một thời, cái thời mà hắn nổi tiếng là một học sinh xuất sắc, học giỏi, đẹp trai. Và bây giờ, cái thời đó đã qua đi khá lâu rồi.
Cũng may, con đường này có những hàng cây xanh, dẫu có tàn tạ một đôi chút trong mùa đông giá lạnh, nhưng vẫn là chỗ nghỉ chân thoải mái để hưởng một chút không khí bình yên của một vùng quê. Có một vài người ngang qua, đi bộ, đi xe đạp, xe máy… nhưng hầu như họ không thèm để ý đến sự tồn tại của hắn dưới gốc cây ven đường, y như hắn đã bị tàng hình, hoặc hắn không là gì cả đối với họ, hay cũng có thể, một người ngồi nghỉ ven đường là chuyện rất bình thường ở đây. Thôi kệ họ, có thể đối với họ, hắn cũng là một người xa lạ, dù rằng, vùng đất này không hề xa lạ với hắn một chút nào. Đây là quê hương, nơi chôn nhau cắt rốn của hắn.
Cái thị trấn này bao đời vẫn vậy, có thể nói, từ khi hắn mở mắt chào đời thì nó hình như chẳng có chút thay đổi nào đáng kể. Những đứa trẻ sinh ra, lớn lên; những người lớn dần già đi, và qua đời. Cái qui luật muôn thưở của cuộc sống lặp đi lặp lại, cứ một, hai tiếng khóc oe oe hòa trong tiếng cười vui vẻ, thì lại có một tiếng khóc nức nở cùng với những phút giây ngậm ngùi. Muôn đời vẫn vậy. Không ai có thể đổi thay được cái qui luật đó cũng như có thể làm chậm bước được thời gian.
Tự nhiên hắn cười cho mình. Bỗng nhiên bây giờ lại thành một triết gia về cuộc sống. Hắn nhớ lại gia đình mình, một gia đình giàu có, một gia đình đạo dòng ở vùng đất này. Gia đình hắn tin Chúa từ thời ông nội, ông cố, cho đến đời cha hắn, một chấp sự gương mẫu, tận tụy công việc Chúa. Thời gian sau này, khi việc kinh doanh ở nhà ổn định, ông chỉ chú tâm vào việc nhà thờ mà thôi. Vì thế, mỗi lần cần gặp ông, người ta có thể đến ngay nhà thờ mà không cần ghé nhà. Hắn cũng là một thanh niên tốt trong Hội Thánh, có thời đã là Trưởng ban Thanh niên, được nhiều người yêu mến, và dĩ nhiên là có các cô gái nữa, bởi hắn vừa đẹp trai, học giỏi, sốt sắng… đủ mọi ưu điểm. Thời kỳ huy hoàng nhất của hắn có lẽ là thời kỳ đó, một Trưởng ban năng nổ, biết góp phần cùng Hội Thánh, việc gì hắn cũng làm được, nên tất cả mọi hoạt động của Hội Thánh đều có bàn tay của hắn. Người ta đoán thầm tương lai hắn còn có thể đi xa hơn nếu hắn dâng mình hầu việc Chúa, thi vào trường Kinh Thánh…
Chuyện hắn bỏ nhà ra đi chắc làm nhiều người bất ngờ, ngay chính trong gia đình cũng không thể hiểu được. Nếu hắn không nói ra thì có lẽ mãi mãi cái bí mật đó được giấu kín, và nếu người ta có tìm hiểu thì cũng ở mức độ đoán già đoán non chuyện này chuyện kia thôi. Hắn đã đi vào con đường tội lỗi một cách vô ‎thức, ban đầu chỉ là để thể hiện sự cứng cáp, mạnh mẽ của mình, nhưng rồi, cái thể xác yếu đuối của hắn đã không thể chống cự nỗi sự cám dỗ của tội lỗi. Những l‎úc ấy, hắn về nhà với tâm trạng ăn năn, buồn bã. Ai cũng nghĩ hắn mệt mỏi về công việc. Rồi hắn tự tìm cho mình một chỗ riêng tư, để suy gẫm và để tự thuyết phục mình sẽ thắng được sự cám dỗ đó. Nhưng cuối cùng, mọi việc không có gì thay đổi. Có những lúc hắn tưởng đã thoát khỏi xiềng xích của tội lỗi, nhưng đó chỉ là những thời khắc hiếm hoi, bởi cái vòng vây của ma quỉ thì quá lớn, còn hắn thì quá nhỏ bé, quá đơn độc trước những thử thách khôn lường. Hắn không dám tâm sự với một ai, bởi vì hắn là người có sự tự ti. Không, tự kiêu thì đúng hơn. Hắn không thể vạch áo cho người xem lưng, đường đường là một người được mọi người tôn trọng, yêu mến thì không thể nào cho họ thấy được sự yếu đuối của mình. Cha hắn thì càng không, vì ông hầu như không biết gì về chuyện ở nhà nữa, tất cả tâm trí và niềm vui của ông trong lúc tuổi già đều chỉ là công việc tại nhà thờ, những chuyến đi làm chứng, những cuộc sinh hoạt thông công, những buổi lễ. Mẹ hắn là một người mềm yếu, nếu biết việc hắn làm, có lẽ bà ta sẽ sống không nổi. Mục sư lại càng không. Hắn không thể để cho ông thất vọng, và ông sẽ nói gì khi biết con người mà bấy lâu nay ông tin tưởng, ông trông cậy, lại là một người hư hỏng? Rồi còn các thanh niên, thanh nữ trong Hội Thánh…
Chính vì vậy, hắn nghĩ bỏ đi là một quyết định đúng đắn, để cho hắn có cơ hội làm làm lại cuộc đời ở một nơi khác, một nơi mà không ai biết hắn, không ai nghĩ rằng trước đây hắn rất tuyệt vời, nơi hắn có thể lầm lũi đến và lầm lũi đi như một cái bóng để rồi từ từ tự mình có thể vươn lên.
Sáng hôm đó, hắn chuẩn bị đi làm như bình thường, nhưng thay vì đến nơi làm, hắn đến thẳng bến xe và bắt đầu một chuyến đi xa mà ngày trở về hầu như không thể biết. Nơi hắn đến là một thị trấn miền núi xa xôi, cư dân thưa thớt chỉ toàn những người khắp nơi đổ về kiếm sống, chính vì thế cũng chẳng ai hỏi hắn từ đâu đến, trừ khi hắn nói ra. Ban đầu, nhờ thông minh, nhanh nhẹn và vốn học vấn tốt nên hắn được nhận vào làm kế toán cho một cửa hàng buôn bán tạp hóa nhỏ. “Không may” cho hắn, người chủ tiệm tạp hóa là một người tin Chúa rất sốt sắng, thấy anh chàng kế toán có vẻ hiền hậu, tốt bụng, hễ có thời gian rãnh là ông cứ tranh thủ làm chứng, giới thiệu về Chúa cho hắn. Lúc đầu hắn cũng chịu khó ngồi nghe, nhưng rồi càng về sau hắn càng mặc cảm, không biết phải làm thế nào để cho ông ta khỏi làm chứng nữa. Việc nghe lời làm chứng giống như một điều gì thôi thúc trong lòng hắn, đôi lúc hắn muốn trình bày sự thật cho ông chủ nghe, nhưng rồi hắn lại tự dặn lòng, đừng cho ai biết về con người hắn. Thời gian này, hắn vẫn không thể rời xa được những gì đã lôi kéo hắn ra khỏi cuộc sống của một tín đồ mẫu mực tại quê nhà. Hắn vẫn âm thầm bước đi trên con đường cũ, nhưng vì sống khá kín đáo nên hầu như không ai biết được. Cuối cùng, một dịp may đã đến với hắn. Một ngày nọ, có một người rủ hắn cùng đi làm vàng. Anh ta mở ra cho hắn một viễn cảnh khá lý tưởng khi nói rằng đây là khu vực có vàng sa khoáng rất nhiều mà chưa ai biết, và dĩ nhiên, cơ hội làm giàu nằm trong tầm tay những người đến trước. Cuối cùng hắn chấp nhận thử thách cùng số phận một phen. Hắn gia nhập toán làm vàng gồm có bảy người, tuy nhiên do hắn không quen lao động chân tay, nên họ đồng ý cho hắn làm kế toán, ghi chép sản lượng của mỗi người hằng ngày và được ăn phần trăm trên số vàng thu hoạch được. Thấy hắn là người trí thức, vả lại từng làm kế toán cho cửa hàng tạp hóa nên họ rất tin tưởng hắn.
Bãi vàng sa khoáng thực chất là lòng của một con suối nhỏ đầu nguồn. Sau hai ngày lội rừng, toán của hắn cũng đã đến được nơi cắm trại. Theo lời kể của người trưởng toán, đây là nơi anh ta đã biết từ lâu, nhưng vì không có người đi cùng nên không dám đến. Thời tiết khá tốt cho công việc. Trời nắng, khô ráo, nhưng ở rừng thì rất mát mẻ. Theo qui ước, tất cả vàng đãi được trong ngày đều được cân đo, đong đếm rõ ràng, thu về một mối, sau khi bán được thì căn cứ vào đó mà ăn chia. Do tất cả mọi người, trừ hắn, đều trong một gia đình, nên không có điều gì phải phàn nàn, bàn cãi. Số vàng thu được khá nhiều, ngày ít nhất cũng được vài chỉ.
Thế nhưng mọi sự không hề đơn giản, và hình như cuộc đời đang đùa giỡn với hắn. Một buổi sáng nọ, hắn đang ngồi trong lán trại, tính toán lại số vàng chuẩn bị đem xuống thị trấn bán thì bỗng một người trong toán đãi vàng chạy về la lên:
-        Hốt hết, hốt hết, chạy nhanh.
Hắn không hiểu chuyện gì đã xảy ra, nhưng với sức thanh niên trai tráng, hắn vơ đại một ít vàng rồi chạy nhanh vào rừng. Thoang thoáng bên tai hắn còn nghe tiếng hô đứng lại, và tiếng súng bắn. Thế là đã bị vỡ. Sau này hắn biết được, cả toán đã bị bắt vì khai thác vàng sa khoáng trái phép, làm ô nhiễm môi trường, chỉ mình hắn may mắn thoát được.
Ba ngày ở trong rừng chính là ba ngày đáng nhớ nhất của cuộc đời hắn. Hắn đói khát, mệt mỏi và chán nản. Không hiểu sao hắn không còn định hướng được, cứ đi hoài mà không đến nơi, con suối nhỏ nơi hắn làm lán trại cũng không biết nằm ở phương nào. Có những lúc hắn định buông xuôi tất cả. Cuộc đời bất hạnh của hắn đến đây là hết. Hắn không còn một thú vui, một ham thích nào nữa. Tất cả chỉ là hư không, chẳng đem lại một lợi ích nào, thật là vô nghĩa. Nhưng rồi cái tôi trong con người hắn lại xuất hiện. Không lẽ một người con của Chúa, dẫu rằng là con hoang đàng, lại chết một cách thê thảm trong rừng vắng vậy sao. Ít ra hắn cũng là người được dạy dỗ tử tế, có gia đình, có bạn bè, có Hội Thánh, sao hắn lại phải lưu lạc như thế này. Thế rồi hắn nhớ những gì mình đã nghe, đã học ở các buổi nhóm, các lớp trường Chúa nhật… Ôi, sao những tháng ngày ấy tuyệt vời đến vậy. Hắn tự động viên cho mình phải đứng lên, không thể buông xuôi dễ dàng. Hắn biết rằng, những gì lôi cuốn hắn trong thời gian qua không thể giúp hắn sống sót được trong một môi trường khắc nghiệt này. Hắn nhớ đến nhà, nhớ cha mẹ, nhớ bạn bè, các anh chị em trong ban Thanh niên, rồi nhớ đến Hội Thánh, đến vị quản nhiệm. Hắn nhớ lại những ngày Giáng sinh thật vui, những giờ tập hát, rồi cùng nhau trang trí cây thông Noel, treo những dây đèn… Thật không thể nào quên. Và hắn cũng nhớ mùa Giáng sinh lại là mùa sum họp của những người con Chúa, gia đình, bạn bè gặp nhau với những lời chúc và một món quà nhỏ nhưng đầy ý nghĩa. Rồi cuối cùng, lần đầu tiên sau nhiều năm hắn quyết định quì gối cầu nguyện, khóc nức nở, ăn năn với Chúa
Sáng hôm sau, một người đi rừng đã gặp và chỉ đường cho hắn trở về thị trấn. Hóa ra đường ra không xa lắm nhưng hắn không hiểu vì sao mấy ngày qua hắn không thể tìm ra được lối ra. Hắn chiêm nghiệm lại, và hiểu rằng đấy cũng là cơ hội để Chúa cho hắn một bài học đích đáng. Rồi hắn quyết định trở về lại quê nhà, cho dù bị khinh bỉ, chửi mắng, nhưng những điều đó chắc chắn không thấm thía gì so với những gì hắn đã trải qua trong khu rừng với sự đói khát, mỏi mệt, nản lòng, vô vọng…
Tự nhiên, hắn thấy trong người rất mệt mỏi, không hiểu do bị say xe hay thế nào. Trời lạnh quá. Hắn ngồi co ro. Cái đầu hắn nhức như búa bổ, nghe như mạch máu chạy rần rần dưới lớp da. Hắn ngước lên, nhìn ra phía ngoài đường, tất cả như chói lòa, sáng rực. Người hắn xoay tròn, hắn đang bị hoa mắt. Hắn vội vàng đưa bàn tay che lấy đôi mắt, rồi từ từ nằm xuống, cái cảm giác nằm thật thoải mái, mặt đất lạnh, nhưng hình như nó làm cho cơn đau cũng dần tan biến. Rồi hắn từ từ chìm vào trong một giấc ngủ sâu, giấc ngủ mà hắn chưa từng trải qua, nó rất nhẹ nhàng, khiến người hắn cứ lâng lâng, bao nỗi buồn tan biến, bao mặc cảm cũng đã không còn, hình như hắn đã trở lại là con người của những ngày nào…
Trong cơn mơ, hắn nghe thấy có tiếng ai kêu mình, một bàn tay mềm mại vuốt nhẹ lên má, ân cần lay hắn dậy. Cảm giác lúc này thật nhẹ nhàng, hắn không còn thấy cuộc sống này nặng nề nữa. Cha mẹ, những người thân hắn, đều có mặt, họ đang mĩm cười và nhìn hắn bằng ánh mắt trìu mến, khác hẳn những gì hắn tưởng tượng trước đây. Họ đã hiểu và tha thứ cho hắn. Tất cả những đau khổ, nhọc nhằn, đã biến mất, hắn thấy lòng mình thanh thản lạ lùng, hắn thấy mình chính là con người của những năm tháng đó, có gia đình, bạn bè, Hội Thánh và được ở trong bàn tay của Chúa, ấm áp và phước hạnh vô cùng.
Tiếng nhạc Giáng sinh vang lên đâu đây, lòng hắn hớn hở, vui mừng khôn xiết. Hắn đã trở về, trở về trong ngày Giáng sinh…
                                                              VŨ HƯỚNG DƯƠNG

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét