| DÌ NĂM Ngày 11/04/2014
Mới vào tới cổng đã nghe tiếng dì Năm ào ào lên rồi:
-Thằng Vũ đâu, ra đây, đem đồ vô cho dì với.
Vừa thấy tôi, dì kêu lên:
-Ôi, cái thằng cháu tôi, sao mà nhanh lớn và đẹp trai quá, tới đây cho dì thương một cái.
Tôi chưa kịp phản ứng gì thì dì Năm đã làm một cái “chíp” trên má tôi rồi, khiến tôi lúng túng không biết làm thế nào. Má tôi cười:
-Hắn dị rồi, hắn là thanh niên rồi đó dì nghe.
Dì Năm nhìn đi nhìn lại tôi:
-Ừ hé, cái thằng ngó rứa mà lớn nhanh thiệt. Nè, quà của con đây.
Dì đưa cho tôi một giỏ toàn trái cây, xoài, ổi, chuối… có lẽ gần cả chục ký.
-Biết quà của ai không?
-Ủa, chớ không phải của dì hả?
-Cái thằng, nhà dì trồng có mấy cây thôi, chưa tới mùa, của Hồng Phượng đó. Cái con thiệt, nghe dì nói xuống nhà anh Vũ là nó hối mẹ nó hái gởi xuống liền.
Má tôi hỏi:
-Hồng Phượng mô rứa Vũ, bạn học hở?
-Đâu có má.
Dì Năm cười:
-Chị không biết hả? Cái thằng tốt số lắm. Hôm hè năm ngoái nhờ nó lên coi nhà mấy bữa đó. Con bé trước nhà kết hắn lắm, mấy cũng “anh Vũ, anh Vũ” hết. Mà nè, dì thấy hắn được đó Vũ nghe.
Má tôi cười:
-Thôi, đừng chọc hắn nữa, hắn còn học chưa xong mà. Dì ni, hồi mô cũng rứa.
Mà thiệt, hễ cứ mỗi lần gặp dì Năm là dì cứ: “con bé này được, con bé kia được…”, tôi thường gọi là “Chương trình mai mối”, bởi lúc nào gặp tôi, dì cũng “bổn cũ soạn lại”, không hề thay đổi.
Chuyện dì Năm tin Chúa cũng rất bất ngờ. Ngày xưa, hồi dì chưa có chồng, hay qua nhà chơi với ba má tôi. Má tôi rủ dì đi nhà thờ, dì thích lắm. Tất cả các sinh hoạt của Hội Thánh, dì đều nhiệt tình tham gia. Một hôm, khi Ban hát Thanh niên lên ráp nhạc, Mục sư Quản nhiệm thấy dì lạ nên hỏi, mới biết dì chưa cầu nguyện tin Chúa. Ông không cho dì hát, mà yêu cầu dì phải cầu nguyện tin Chúa thì mới được vào Ban hát lễ Thanh niên. Dì Năm không nói gì, nhưng sau lần đó, dì không chịu đi nhà thờ nữa, dù ba má tôi có nói gì đi nữa. Tôi cũng biết tính dì, xởi lởi, nhưng cũng rất nóng, hay tự ái. Ba má tôi thấy vậy, đành im lặng, chờ cho qua một thời gian rồi sẽ tiếp tục làm chứng cho dì tin Chúa.
Từ hồi dì Năm có chồng, dì thay đổi hẳn, dịu dàng, trẻ trung hẳn lên. Dì chuyển cơ quan, về quê chồng sinh sống. Lúc này, dì cũng chưa tin Chúa. Một hôm, dì ghé nhà tôi chơi, sẵn tiện, má tôi mới làm chứng cho dì. Dì chỉ im lặng nghe mà không nói một câu. Một lúc sau, má vào trong phòng tìm mấy cuốn Truyền đạo đơn để tặng cho dì xem thêm, lúc trở ra thì đã thấy dì Năm nằm trên chiếc đi văng ngủ ngon lành, chắc là quá mệt sau một ngày đi đường. Má tôi lẳng lặng đắp cho dì chiếc mền, và dì nằm ở đó cho đến sáng hôm sau, người vô tư sướng thật, má tôi nói vậy.
Tuy nhiên, điều bất ngờ là Chúa nhật đó, dì cũng chịu đến nhà thờ cùng gia đình chúng tôi. Cuối giờ thờ phượng, mục sư kêu gọi thân hữu, nếu bằng lòng tiếp nhận Chúa là chủ đời sống mình thì bước lên trên để ông và Ban Truyền giáo cầu nguyện cho, thì dì Năm tự động đứng lên. Ba má tôi cũng không ngờ dì mạnh dạn như vậy. Cả ngày hôm đó, nhà tôi như mở hội, bởi dì Năm dù không bà con, nhưng thân thiết với nhà tôi như ruột thịt vậy. Thật ra là ba má tôi rất lo vì không biết dì có đứng vững được không, tuy nhiên, đó chỉ là lo xa. Càng ngày, dì càng sốt sắng, yêu mến Chúa, trở thành nòng cốt của Hội Thánh nơi dì sinh sống.
Việc dì có chồng cũng rất vui. Dù nhỏ hơn má tôi chỉ vài tuổi, nhưng dì “đứng” khá lâu, gần bốn mươi tuổi rồi mà chưa có chồng. Thật ra, hình thức bên ngoài dì đâu có tệ, cũng dễ nhìn lắm, nhưng chắc là do cái số, dì nói vậy. Thế rồi một hôm, dì qua nhà tôi mời cả nhà dự đám cưới, nhờ má tôi làm phụ dâu. Chú rể là một người cũng khá đứng tuổi, gần năm mươi rồi. Ba tôi hỏi:
-Sao tới giờ này mới chịu lấy chồng đó?
Dì Năm cười:
-Thì em cũng chờ mấy thằng trai trẻ, cuối cùng chẳng có đứa nào ưng hết thành thử vơ đại thằng cha “khú đế” ni.
Nói là vơ đại, chứ thực ra chuyện tình của dì với chú Phu cũng lãng mạn lắm. Hôm mẹ đau nằm trên bệnh viện, dì lên đó trực suốt ngày suốt đêm không nghỉ. Còn chú Phu, lúc đó đi thăm một người bạn bị tai nạn. Lần nào, đến thăm bạn, chú cũng thấy dì Năm loay hoay bên mẹ, lúc thì dọn vệ sinh, lúc thì cho ăn, cho uống, lau người, quạt cho mẹ… Hỏi thăm ra, anh chị em của dì nhiều, nhưng đều ở xa, còn dì chưa có gia đình nên đành xin nghỉ không lương để lo cho mẹ. Những lần gặp gỡ sau đó, hai người tìm hiểu và đã quyết định đến với nhau. Chuyện là vậy.
Chuyện dì Năm làm chứng cho chú Phu tin Chúa cũng khá ly kỳ. Ban đầu, khi hai người mới cưới, chú Phu tuy để cho dì Năm đi nhà thờ thoải mái, nhưng năm lần bảy lượt, chú từ chối, không chịu đi cùng dì. Nói gì thì nói, chú vẫn cứng như đá, không hề lay chuyển. Khi Thầy Truyền đạo Quản nhiệm và Ban Thăm viếng Hội Thánh đến nhà chơi, dì nói:
-Thầy với mấy anh ngó đó, chồng em cứng đầu lắm.
Thầy Truyền đạo hỏi:
-Ảnh cứng đầu ra răng?
Dì nói:
-Thì cái đầu ổng cứng lắm, cầm viên gạch đập vô, đầu không bể mà gạch nát vụn.
Hóa ra dì nói “cứng đầu” là có nhiều nghĩa. Nghĩa bình thường ai cũng biết, đó là không nghe lời khuyên bảo của dì. Nghĩa thứ hai là đầu chú cứng thiệt, chú là võ sư mà, thường luyện công và hay biểu diễn màn lấy gạch đập vào đầu.
Thấy chú Phu không chịu đi nhà thờ, dì Năm buồn lắm. Một hôm nọ, không biết nghe ai bày, hay là tự nghĩ ra, dì Năm nói với chú:
-Anh không đi nhà thờ chắc ngại phải không?
-Ngại chi?
-Thì biết đâu tới đó gặp người yêu cũ, tình xưa nghĩa cũ, khó ăn khó nói với vợ…
-Đâu có.
-Rứa thì mắc chi không đi nhà thờ, ai ăn thịt anh?
Vốn người thật thà, chú lại mắc lừa dì, cũng vì để chứng minh mình không có gì, chú Phu quyết đi nhà thờ với dì Năm. Sau bữa đó chú vui lắm vì thấy vô nhà thờ nghe các ban hát tôn vinh Chúa chú thích lắm. Tuy vậy, chú vẫn không chịu tin Chúa. Người ta làm chứng cho chú hoài, cuối cùng cũng mệt mỏi, nhưng được một điều là chú vẫn thường xuyên có mặt ở nhà thờ mỗi sáng Chúa nhật cùng với vợ con, những công tác gì Hội Thánh cần, chú đều tham gia nhiệt tình, có khi còn tốt hơn những người khác nữa.
Lâu quá thành quen, không ai còn nhớ chú Phu là người chưa tin Chúa. Một hôm, ông Thư ký Hội Thánh hỏi:
-Anh đi nhà thờ lâu rồi, răng chưa học giáo lý, nhận báp tem để dự Tiệc Thánh.
Chú Phu cười:
-Tôi chưa cầu nguyện tin Chúa mà.
-Ủa, vậy à. Đúng rồi, anh chưa cầu nguyện, nhưng đi nhóm cả năm rồi mà răng chưa tin Chúa.
-Thì có ai nói với tôi đâu.
Hóa ra, lúc chú chưa cảm động thì người ta làm chứng ào ào, còn lúc chú muốn tin Chúa thì không ai nói gì cả. Và tất nhiên, sáng Chúa nhật hôm đó, chú Phu bước lên cầu nguyện tin Chúa, làm ai cũng ngạc nhiên, à, hóa ra cái ông này hồi nào đến giờ chưa tin Chúa.
Từ đó gia đình dì Năm như có thêm một cuộc đời mới. Chú Phu, nhờ dạy võ nên quen biết nhiều, mà chú lại hiền lành nên được nhiều người quí trọng, chính vì vậy, chú làm chứng cho người ta tin Chúa dễ dàng lắm. Hội Thánh đã mời chú vào Ban Chứng đạo để cùng những người khác ra đi làm chứng về Chúa.
Chuyện dì Năm làm từ thiện cũng khá thú vị. Một lần đi công tác trên vùng núi về, giữa đường xe bị hư, dừng lại sửa mất mấy tiếng đồng hồ. Ngồi chơi không buồn quá, dì vào trong xóm hỏi thăm có gia đình tín đồ nào, ghé chơi cho vui. Nơi đây, đa số là đồng bào dân tộc, người ta giới thiệu cho dì gia đình nọ có hai mẹ con đều là tín đồ Tin Lành. Khi đến nơi, dì thấy người mẹ đang chăm sóc đứa con đang bị đau nặng. Hỏi ra mới biết đứa trẻ bị sốt mấy ngày rồi, thuốc thang cũng có, chưa nhưng thấy giảm. Dì làm chứng thêm cho họ, và cùng người mẹ cầu nguyện cho đứa trẻ. Sau khi cầu nguyện khoảng mười phút, đứa trẻ bỗng tỉnh dậy, đòi ăn, đòi uống. Mẹ em mừng lắm, cám ơn dì Năm rối rít. Dì cũng cảm động lắm, liền móc ví, còn bao nhiêu tiền cho họ hết, nói là để bồi dưỡng cho em mau lại sức. Mấy tháng sau, hai mẹ con tìm xuống nhà dì thăm, dì đã dẫn họ đến nhà thờ làm chứng cho cả Hội Thánh nghe về việc Chúa đã chữa lành cho em bé.
Từ đó, tự nhiên tấm lòng dì Năm lại hướng về các anh chị em tín hữu người dân tộc. Cách đây mấy tháng, dì xin nghỉ hưu trước tuổi. Ai cũng trách dì dại, vì thời buổi này xin việc nhà nước rất khó, thậm chí còn khá tốn kém. Tuy vậy, dì vẫn cương quyết, nói mình làm đã đủ, bây giờ đến giai đoạn hầu việc Chúa. Lấy số tiền đã nhận khi nghỉ hưu, dì mở một tiệm bán bánh mì, bởi hồi xưa, mẹ dì cũng là người bán bánh mì ngon có tiếng. Tiếng lành đồn xa, không mấy chốc, tiệm bánh mì của dì rất đông khách, mặc dù dì bán có cao giá hơn ở những nơi khác. Dầu có bán đắt, nhưng cứ đến Chúa nhật là dì đóng cửa đi nhà thờ, tuyệt đối không bán cho ai hết. Mà dì bán cũng thong thả lắm, buổi sáng từ 4g đến khoảng 11g, buổi chiều từ 5g cho đến khuya, thì giờ còn lại, dì nghỉ ngơi, đi chợ. Dì buôn bán những không quên nghĩa vụ của mình, hễ ai tới mua bánh mì, dì thường hay làm chứng, và tặng Truyền đạo đơn cho họ. Cũng nhờ đó mà dù chỉ ở nhà, dì cũng làm chứng được cho khá nhiều người. Nhưng đó cũng chưa phải là điều đáng nói, cứ bán được vài ba tháng, dì lại đóng cửa đi “du lịch”. Nói là đi du lịch cho sang chứ thật ra vất vả hơn ở nhà, bởi dì thường du lịch ở các vùng sâu, vùng xa. Mỗi chuyến đi như vậy tốn kém lắm. Số tiền dành dụm được, dì mua gạo, mì chính, dầu ăn, quần áo, sách vở… đem lên tặng cho các gia đinh tín hữu dân tộc khó khăn. Ban đầu không ai để ý, dần dần chính quyền thấy dì đi hoài, họ cũng thắc mắc. Dì trả lời cho họ rõ ràng đây là tiền để dành của dì trong mua bán, dì cũng mời họ xuống nhà chơi để họ thấy thực tế. Khi họ yêu cầu dì giúp luôn cho những đồng bào khó khăn, dì nói sẵn lòng, vì tất cả mọi người đều là con của Chúa mà, chỉ có điều khác nhau là tín hữu biết đường trở về cũng Chúa, còn những người khác thì chưa. Từ đó, dì Năm như trở thành người bạn của họ, hễ có việc dì khó khăn, thì họ cũng nhờ đến dì, mà dì cũng rất hay, hễ làm được điều gì thì dì cũng hết lòng, không ngại ngần gì cả…
Chuyến đi xuống thăm nhà chúng tôi cũng nằm trong hành trình du lịch của dì. Buổi chiều hôm đó, dì và má tôi cùng ra chợ mua thêm một số đồ cần thiết để đem lên giúp anh chị em dân tộc. Những chuyến đầu tiên, dì chỉ có một mình, chứ bây giờ thì thong thả hơn. Đã có nhiều người biết đến công việc của dì, họ không đi được như dì nên thường góp phần, để cùng dì làm từ thiện. Ngay chính nhà tôi cũng vậy, lúc nào cũng có một khoảng dành riêng để góp với dì, không những vậy, ba má tôi còn vận động những người quen, kể cả những người không tin Chúa để có thêm nhiều nguồn lực, chính vì vậy, gia đình tôi, ngoài ý nghĩa tình thân ra, còn là một điểm tiếp trợ cho dì trong công tác từ thiện nữa.
Không những giúp cho các anh chị em tín hữu dân tộc, dì Năm còn giúp cho một số Hội Thánh nữa. Một lần nọ, khi đến thăm Hội Thánh vùng quê, dì thấy nhà thờ được xây dựng mới, khang trang, dì mừng lắm. Tuy nhiên, phía trước nhà thờ là một con kênh lớn, muốn vào nhà thờ phải đi nhờ cây cầu của một ngôi chùa bên cạnh, còn không thì phải đi vào đường hẻm phía sau nhà thờ. Dì buồn lắm, vì nhà thờ là nơi thờ phượng Đức Chúa Trời, Đấng của Sự sáng mà lại phải đi nhờ cây cầu của thế gian… Dì liền mở cuộc vận động quyên góp tiền làm cho nhà thờ một cây cầu.
Trong túi dì lúc đó chỉ có hai triệu rưỡi, nhưng dì mạnh dạn đến nhờ một kỹ sư thiết kế cho một cây cầu. Ông ta hỏi:
-Chị có bao nhiêu tiền mà đòi làm cầu?
Dì trả lời tỉnh bơ:
-Hai triệu rưỡi.
Ông ta cười:
-Hai triệu rưỡi của chị thì chỉ đủ trả tiền bản vẽ thiết kế, lấy đâu mà làm cầu.
Dì trả lời chắc nịch:
-Nhưng tôi tin chắc vào Đức Chúa Trời của tôi, Ngài sẽ cho tôi đủ tiền để làm.
-Vậy chắc chị sẽ làm được, bởi tôi thấy chị có vẻ cương quyết.
Và cuối cùng ông ta cũng làm giúp mà không lấy một đồng tiền công nào.
Dì về nhà vận động anh chị em, bà con, mỗi người một ít. Khi trong Hội Thánh có một cô bị ung thư, sắp về nước Chúa, dì đến thăm và kể chuyện cây cầu cho cô ấy nghe. Cô ấy cảm động quá liền dâng hai trăm ngàn đồng, cả gia đình thấy vậy cũng góp thêm. Và rồi không biết dì vận động thế nào mà người ta góp cũng nhiều, thậm chí có một cô ở cùng Hội Thánh dâng đến hai mươi triệu đồng… Thế rồi một năm sau, cây cầu trị giá một trăm bảy mươi triệu đồng của Hội Thánh đã được khánh thành, Mục sư Quản nhiệm mừng quá không biết nói thế nào, chỉ biết cảm tạ Chúa. Từ đó, con dân Chúa không còn phải nhờ vả người khác, đã có thể đàng hoàng trên cây cầu của chính mình mà vào nhà thờ thờ phượng Chúa.
Sáng hôm sau, má tôi bảo:
-Vũ, con chở dì Năm ra bến xe, nhanh lên chớ không thì trễ đó.
Vừa mới chở dì ra khỏi cổng, dì Năm nói:
-Cái con bé kỳ rày dễ thương lắm Vũ nghe.
-Bé mô rứa dì?
-Thì con Hồng Phượng chớ ai.
Thôi rồi, dì Năm yêu dấu của tôi lại bắt đầu “Chương trình mai mối” của mình, còn tôi thì đang phải chở dì, làm sao mà trốn được đây…
Vũ Hướng Dương
|
tập hợp một số bài viết, truyện ngắn,... của Vũ Hướng Dương. xem như để khỏi thất lạc.
Thứ Năm, 20 tháng 11, 2014
DÌ NĂM
TẤM LÒNG
TẤM LÒNG
Ông Tám ngồi nhìn ra sân, mấy ngón tay nhịp nhịp trên bàn, có vẻ vui lắm. Ông nói với bà Tám:
- Má mấy đứa nhỏ nè, tôi thấy xóm dưới có mấy đứa sinh viên tội lắm.
- Tội là sao?
- Thì tụi nó ở xa, nhà nghèo nên phải đi bộ tới trường, một ngày đi cả chục cây chứ chẳng ít đâu.
- Ờ thì cũng tội, mấy đứa con mình hồi xưa đi học cũng còn có được chiếc xe đạp cũ để mà đi.
- Bởi vậy, tôi nói với má mấy đứa nhỏ nghe thử được không?
- Nghe sao?
- Thì cái xe đạp mình đó, lâu nay mình không đi, thôi cho tụi nó cũng được.
- Rồi hồi mình cần thì lấy chi mà đi?
- Thì bên con Hương, thằng Hà đó chi, muốn đi thì có xe đạp, muốn chở thì có xe máy, cũng tiện thôi.
Bà Tám trách:
- Ờ, tui biết cái ý ông rồi, hèn chi mấy tháng nay ông cứ rủ tui, Chúa nhật nào cũng đi bộ hết, hóa ra là để chiếc xe cho mấy đứa nhỏ…
Ông Tám cười, không nói.
Chuyện là thế này, hai vợ chồng già có chiếc xe đạp, cứ mỗi Chúa nhật là cùng chở nhau đi nhóm. Ông Tám cũng thường hay dùng chiếc xe đạp này để đi thăm viếng các anh chị em tín hữu chung quanh. Một hôm ông về bàn với bà, hay là mình đi bộ. Bà hỏi tại sao thì ông nói, để tập thể dục, mình già rồi, đi bộ cho giãn gân cốt, có lợi cho sức khỏe.
Vậy là cả hai đi bộ đến nhà thờ vào mỗi sáng Chúa nhật. Mấy lần đầu, bà Tám thấy cũng vất vả, vì chưa quen, nhưng sau đó mấy tuần, bà thấy người như khỏe ra, tập thể dục mà. Thật ra, mỗi ngày bà Tám cũng đi bộ tới chợ, nhưng từ nhà đến chợ khá gần hơn nhà thờ, quãng đường có thể hơn cả cây số. Vả lại, đi bộ cũng có cái vui được gặp gỡ bà con lối xóm nhiều hơn, mà có đứng lại nói chuyện, thăm hỏi một chút cũng dễ dàng hơn đi xe nhiều.
- Ờ, ông cho ai thì cho, nhưng hỏi han cẩn thận hoàn cảnh, chứ nhiều khi cho không đúng người thì uổng lắm.
- Cái này tui đã hỏi ông Mục sư rồi, ông giới thiệu đó.
- Vậy chừng nào đem xe đạp cho mấy đứa nhỏ?
- Thì chiều nay, mấy đứa tới nhà mình chơi, rồi cho luôn. Má sắp nhỏ coi thử, trong nhà còn đậu chi không, nấu nồi chè ăn cho vui.
Thật ra, bà Tám cũng hơi tiếc chiếc xe, tuy không giá trị gì nhiều, nhưng gia đình bà cũng không phải khá giả lắm. Tính ông Tám thì bà rất hiểu, nghèo nhưng cũng rất rộng lòng. Cái tính thích giúp đỡ người khác của ông bao đời vẫn không thay đổi. Hồi xưa, khi còn làm công chức nhà nước, ông đã vậy. Hễ giúp được ai là ông giúp, miễn là không trái với pháp luật, qui định của nhà nước thôi. Nhiều người đem biếu tiền, ông không lấy, chỉ nhận chút khoai sắn, rau củ của ruộng vườn, như là đáp nhận cái tình của họ. Chính vì vậy, dẫu làm bao nhiêu năm, đến khi nghỉ việc, ông vẫn không thể xây được một ngôi nhà kiên cố, sắm được chiếc xe cho đàng hoàng… như nhiều đồng nghiệp. Thanh thản, thoải mái, đó là những gì hai vợ chồng ông mong muốn trong cuộc sống này, dẫu nhiều người chê bai, cho rằng dại…
Hai đứa con đã ra riêng, chỉ còn hai ông bà sống với nhau dựa vào mấy cây trái trong vườn, cũng đủ qua ngày. Được một cái là mấy đứa nhỏ, cùng sắp cháu rất yêu mến Chúa, có hiếu với ông bà, cha mẹ. Đó là điều mà ông bà Tám rất hãnh diện.
Một hôm nọ, cả hai gia đình Hương, Hà qua chơi. Sau bữa cơm, Ông Tám ngồi nhìn ra sân, mấy ngón tay nhịp nhịp trên bàn, có vẻ vui lắm. Ông Tám nhìn họ, nói:
- Mấy đứa giúp ba một cái nghe.
Hương nói:
- Gì mà quan trọng vậy ba?
- Thì cũng làm từ thiện thôi. Bây giờ ba tính, mỗi tháng, hai đứa con, mỗi đứa giúp cho ba năm chục ngàn thôi, ba để dành cho mấy đứa học sinh nghèo trong Hội Thánh, để có tiền mua sách vở, giấy bút.
Hà nói:
- Con thấy mấy người kha khá mới làm từ thiện chớ ba, nhà mình ngó đi ngó lại cũng chỉ đủ ăn thôi mà.
- Ờ, hồi xưa ba cũng nghĩ vậy, mình có dư mới đi là từ thiện. Nhưng rồi, hôm gặp chú Thanh, ba mới hiểu. Làm từ thiện không phải người giàu mới làm được, mà người nghèo cũng phải làm. Mà đâu có chuyện người ta đưa tiền cho mình, rồi mình đi giúp người này, người kia thì gọi là làm từ thiện. Làm từ thiện là tự mình phải tiết kiệm, lấy tiền đó giúp người khác mới là giá trị. Ba nghe nói nhiều Hội Thánh, người ta nghèo lắm, nhưng mỗi năm đều có đóng góp để giúp đỡ những nơi khác, khó khăn hơn.
Hương tán thành:
- Không biết sao chớ kỳ này con nghe ba nói hay quá.
- Ba mà nói không hay thì ai hay?
Cả nhà cùng cười. Hà nói:
- Thôi giờ thế này, gia đình con với gia đình chị Hương góp cho ba mỗi người 100 ngàn. Cứ đầu tháng, nhận lương là tụi con gởi cho má. Ba cứ làm chi đó mà làm. Hà quay sang hỏi Hiếu, vợ mình:
- Em thấy sao?
Hiếu cười:
- Chuyện đó thì tốt quá đi chớ, anh bớt tiền uống cà phê đi là được.
- Chà, không uống cà phê là dễ chết lắm đó nghe.
Ông Tám nói:
- Mấy đứa con đồng ý thì ba mừng rồi.
Hạnh, chồng Hương nói:
- Nhưng lâu lâu, tụi con rảnh thì cho tham gia với, đi cho vui. Với lại, cũng coi như giáo dục cho các cháu biết yêu thương, quan tâm đến người khác.
- Ô, vậy thì quá hay. Thiệt ra thì ba có đi đâu xa, trong Hội Thánh nè, rồi mấy đứa nhỏ trong xóm mình nữa, thấy tụi nó đi học nhớ lại hai đứa con hồi xưa…
Chúa nhật, sau khi đi nhóm về, hai vợ chồng ngồi uống nước, nghỉ ngơi. Ông Tám ngồi nhìn ra sân, mấy ngón tay nhịp nhịp trên bàn, có vẻ vui lắm. Bà Tám hỏi:
- Bữa nay có chuyện gì vui quá vậy?
- Bà đi nhóm mà không biết hả?
- Thì biết bao nhiêu chuyện, ai biết ông vui chuyện gì?
Ông Tám cười :
- Sáng nay bà không nghe ông Mục sư nói gì hả?
- Ông nói gì?
- Hội Thánh mình đang vận động quyên tiền xây dựng nhà nguyện cho Hội Nhánh mới. Gia đình mình cũng phải tham gia chớ. Tui với bà phải lên kế hoạch ra sao đây nè…
Vũ Hướng Dương
CHUYỆN CỦA SU
CHUYỆN CỦA SU
Hai mẹ con Vân ghé nhà tôi chơi. Vân nói :
- Anh Hải, hôm trước anh nói sao mà bé Su nó rủ mấy bạn đi nhà thờ đó, bữa ni em dẫn mấy đứa lên chơi đây.
Tôi nhìn ra cửa, Su với hai đứa bạn đang đứng trước, đứa nào mặt mũi cũng thật kháu khỉnh. Tôi kêu:
- Bo, Bi, ra đây chơi với bé Su nè, có bạn của hắn nữa.
Chuyện là thế này, hôm trước do bận việc, nên Vân gởi bé Su lên nhà tôi. Buổi chiều, mấy mẹ con Hòa đều đi chợ rồi, tôi và Su đem cái ghế xếp ra nằm chơi dưới gốc cây nhãn. Những ngày tháng tư, mới đầu mùa nắng mà đã thấy nóng lên rồi. Trong cái nóng nực mà đón được một làn gió mát thì còn gì thích thú bằng. Hai chú cháu nhìn lên bầu trời xanh, một màu xanh sâu thăm thẳm với những cụm mây trắng còn vương nắng trôi lang thang. Buổi chiều thật là đẹp.
Ngồi chơi một lúc, nói chuyện đủ thứ, mục đích là chờ đợi Hòa đi chợ về, chứ cơm thì chúng tôi đã nấu xong từ lâu rồi. Su rất dễ thương, khỏe mạnh, chắc có cái tạng người giống cha. Lâu lâu mới có dịp, Su cứ nói hết chuyện này qua chuyện khác, từ chuyện ở lớp, ở trường, rồi tới con chó nhỏ ở nhà, cái vườn rau của Su có mấy cây rau thơm, rau cải… Tôi thì chỉ biết kể chuyện về Chúa Giê-xu cho bé, Su thích lắm. Nghe tôi kể, mà bé cứ nhắm mắt lại, cái miệng hơi mĩm cười, tôi đoán chắc là Su đang tưởng tượng về những gì đang nghe…
Bỗng Su nhìn tôi cười, đôi mắt cứ nheo nheo như vừa khám phá ra điều gì bí mật. Tôi hỏi:
- Sao vậy?
- Bữa ni Su mới biết một điều.
- Điều chi?
- Chú cũng giống ba Su.
Tôi cười:
- Giống cái chi?
- Ba cũng hay kể chuyện về Chúa cho Su.
- Ờ, thì đó là những chuyện Su nên nghe, để hiểu biết thêm chớ. Chú cũng hay kể cho anh Bo, Bi nghe mà.
- Nhưng chú kể hay lắm!
Cũng có thể, vì tôi mới đọc mấy câu chuyện này trong cuốn Truyện tích Kinh Thánh dành cho thiếu nhi, người ta viết tóm tắt lại, gọn gàng, mà lại phân thành những câu chuyện nhỏ, trẻ dễ hiểu, dễ nhớ.
- Gần tới Lễ Kỷ niệm Chúa Thăng thiên rồi, Su biết không?
- Dạ không. Mới hôm trước, Su nghe mẹ nói Chúa sống lại, phải không chú?
- Ờ, sau khi ở trong phần mộ ba ngày, Chúa đã sống lại. Ngài đến thăm các môn đồ, dạy dỗ họ, rồi thăng thiên.
- Thăng thiên là sao hả chú?
- Là về trời, là bay lên trời đó.
- Chúa bay lên trời được à?
- Được chớ sao không. Vì Chúa Giê-xu là Đức Chúa Trời mà. Chúa về trời rồi, dặn những người ở lại phải đi giảng Tin Lành khắp nơi, và Chúa sẽ luôn ở cùng họ.
- Su hiểu rồi, hèn chi, nhà thờ mình cứ giảng Tin Lành, đó làm theo lời Chúa dạy, phải không chú?
- Su giỏi lắm, thông minh nữa.
Nghe tôi khen, bé Su cười híp mắt, cái mặt tròn trĩnh trông thật đáng yêu. Tôi cầm lỗ tai Su kéo nhè nhẹ.
- Rứa Su có nói về Tin Lành cho ai chưa?
- Dạ chưa, nhưng nếu Chúa biểu thì Su sẽ đi nói.
- Nói cho ai?
- Cho mấy bạn gần nhà Su.
Chà, tôi không hiểu, cỡ như bé Su nói về Tin Lành theo cách nào đây. Thật là khó, vì bé cũng mới 8,9 tuổi chứ mấy.
Hôm nay mới biết, hóa ra là Su rủ mấy đứa bạn đi nhà thờ. Tôi chợt nhớ lại Bo và Bi hôm Lễ Giáng sinh vừa rồi, tụi nó cũng rủ được bạn mình đi nhà thờ. Nhưng đó là khác, vì những phụ huynh đều là người quen và họ đồng ý, còn bây giờ, với bạn của Su, thì không biết thế nào.
Tôi hỏi Vân:
- Ba má mấy đứa bạn Su có biết không?
- Hình như chưa.
- Vậy thì không phải dễ.
- Em cũng biết, cho nên bữa ni, xin phép chở tụi hắn đi chơi, vừa hỏi thăm ý kiến anh thử.
- Nếu bé Su rủ tới nhà mình chơi thì được, còn đi nhà thờ là chuyện khác, cha mẹ phải đồng ý. Rồi ai chở tụi hắn đi nữa chớ, họ đâu phải tín đồ nên tới nhà thờ cũng không tiện lắm, mà em đâu có thời gian để chở đi hoài…
Hòa nói:
- Hay là chiều Chúa nhật, mình cho mấy đứa tới nhà bé Su cũng được. Ở đây có hai anh em Bo, bé Na, xuống đó nhóm luôn, thêm bé Su, Nhím nữa là năm, bạn bé Su là bảy. Thành lập nhóm nhỏ được rồi.
- Rứa chiều Chúa nhật không cho mấy đứa đi sinh hoạt ở nhà thờ à? Tôi hỏi.
- Thì chuyển về đây, cũng đâu có sao. Biết đâu lại thuận tiện cho nhiều đứa.
Vân hỏi:
- Vậy ai hướng dẫn mấy đứa?
- Mình đề nghị Ban Hướng dẫn thiếu ấu nhi phân công người phụ trách nhóm nhỏ này. Có thể lắm nghe. Để bàn với Mục sư rồi sẽ tính tiếp.
Nói là làm. Tôi nói với Hiền, mẹ cu Bi; vợ chồng Hân, ba mẹ Nhím, cầu nguyện thêm cho các cháu. Vài hôm sau, tôi lên nhà thờ, bàn bạc với Mục sư Quản nhiệm, ông ủng hộ ngay. Vậy là, chiều Chúa nhật tuần sau đó, buổi nhóm đầu tiên được tổ chức tại nhà Vân. Bạn của Su được hai đứa, kể ra cũng không đến nỗi ít. Cha mẹ của chúng cũng vui vẻ đồng ý, vì tôi biết họ ngại đến nhà thờ, chiều Chúa nhật cho con họ đến đây chơi với các bạn đồng lứa, cũng xem như làgiải lao, miễn là chúng thích là được. Chỉ tội Bo, Bi và bé Na, đi nhóm ở nhà thờ quen rồi, bây giờ lại xuống dưới nhà bé Su, cũng hơi buồn. Tuy vậy, sau khi nghe chúng tôi động viên, chúng nó có vẻ lấy lại tinh thần, rồi tự hứa với nhau, mỗi đứa cố gắng rủ thêm bạn đi nhóm cho vui.
Cái nhóm nhỏ được thành lập như vậy đó, cứ cách tuần, mấy anh em Bo lại được về Hội Thánh nhóm chung với các bạn, thế cũng đỡ thiệt thòi cho chúng. Hy vọng chương trình nhóm của các cháu, với những câu chuyện Kinh Thánh, những bài Thánh Ca, những lời cầu nguyện, rồi các trò chơi, sinh hoạt… một ngày nào đó, bạn của bé Su và các con tôi, sẽ hiểu được lời Chúa, chúng sẽ vui vẻ mời Chúa bước vào lòng, hướng dẫn đời sống của mình. Và tôi biết, đó cũng là một phần thưởng thật vô giá cho những nỗ lực của các cháu. Ờ, không những vậy, đây cũng là một lời nhắc nhỡ cho những người lớn như chúng tôi nữa chứ.
Vũ Hướng Dương
TÙY BÚT: NẮNG SỚM
TÙY BÚT: NẮNG SỚM
Ngày đầu tuần, trời vẫn còn tinh mơ, những ánh nắng yếu ớt nhuộm vàng một vài đám mây nhỏ trên trời cao, thỉnh thoảng có chút sắc hồng, tía le lói ở một vài nơi nhưng vẫn chưa đủ làm cho bóng đêm đang phủ đầy bầu trời qua đi. Hơi sương vẫn còn ẩm, , một buổi sáng thật mát lạnh. Cả thành phố vẫn còn im lìm trong giấc ngủ, không gian yên ắng có lẽ sẽ còn kéo dài khá lâu nếu không có bóng dáng một vài người ẩn hiện trong bóng đêm vẫn còn khá dày đặc…
Ma-ri Ma-đơ-len bồn chồn chờ đợi mấy chị em khác đến. Thông thường tâm lý người chờ đợi bao giờ cũng thấy lâu, mà thật vậy, chỉ mới có mấy phút trôi qua, nhưng cô cảm thấy như cả giờ đồng hồ. Sáng sớm nay, cô hẹn họ cùng nhau đến thăm mộ Chúa Giê-xu, người Thầy kính yêu của họ. Mấy ngày qua, trong lòng những môn đồ của Chúa, ai cũng ngổn ngang những nỗi niềm, lo lắng, buồn đau, thương nhớ,... Sự kiện Chúa Giê-xu của họ bị bắt tại vườn Ghết-sê-ma-nê, bị đưa ra xử án và đóng đinh trên thập tự giá khiến nhiều người mệt mỏi, nản chí. Tuy vậy, sự thương nhớ với tấm lòng yêu kính Chúa luôn ngự trị trong tâm can họ.
Ma-ri Ma-đơ-len không khỏi rơi nước mắt khi nhớ về Chúa Giê-xu, người Thầy đáng kính, yêu thương của cô, nhờ có Chúa mà cô đã thoát khỏi sự hành hại của bầy quỷ dữ, chúng từng làm cô đau đớn biết bao… Những tháng ngày theo Chúa, chính là những tháng ngày đẹp đẽ nhất đời cô. Được học hỏi, được phục vụ Chúa là một vinh dự, một sự phước hạnh, bởi qua đó, cô đã được mạnh mẽ, vững vàng thêm trong đức tin rất nhiều.
Cuối cùng rồi bóng dáng hai người bạn cũng xuất hiện, Ma-ri và Sa-lô-mê. Họ mang theo thuốc thơm để xức cho Chúa Giê-xu. Những ngày này, ngoài sự cầu nguyện, họ chỉ mong được đến ngôi mộ, xức dầu cho xác Chúa, như vậy cũng đã thỏa lòng thương nhớ. Cả ba chị em, mỗi người mỗi hoàn cảnh, nhưng lại gặp nhau trong sự kính yêu Chúa. Ma-ri mẹ của Gia-cơ và Giô-sép, hai môn đồ của Chúa. Cô là người phụ nữ đầy tình yêu thương, chân thật. Chồng cô, Cơ-lê-ô-ba, cũng là một người rất yêu mến Chúa. Sa-lô-mê, mẹ của Giăng và Gia-cơ, cùng chồng là Xê-bê-đê đã hiến dâng rất nhiều của cải cũng như chính mình họ cho công cuộc truyền giáo của Chúa Giê-xu. Giăng chính là người được Chúa Giê-xu yêu mến nhất. Ma-ri Ma-đơ-len vẫn còn nhớ rõ, tại thập tự giá, Chúa Giê-xu đã chỉ vào Giăng và nói với Ma-ri, mẹ Ngài: “Xin mẹ nhận người này làm con”, và Ngài quay sang nói với Giăng: “Đó là mẹ con”. Một sự ủy thác đầy tình yêu thương.
Trên đường đi, Ma-ri thì thầm:
- Ai sẽ lăn hòn đá lấp cửa mộ ra cho chúng ta?
- Ờ há. Sa-lô-mê nói. Làm sao ba người phụ nữ chúng ta có thể lăn tảng đá to ra được để mà vào thăm Thầy?
Ma-ri Ma-đơ-len trầm ngâm:
- Thôi, mình cứ đến đó rồi xem sao.
Ba chị em cứ lầm lũi đi, bóng dáng họ lúc ẩn lúc hiện dưới đám sương mờ sáng sớm. Trong lòng rất nóng nảy, không ai nói thêm câu gì, họ vội vàng bước nhanh qua những đoạn đường gập ghềnh, khúc khuỷu để mau đến mộ Chúa Giê-xu.
Thình lình, mặt đất rung chuyển dữ dội. Họ hốt hoảng. Tự nhiên, Ma-ri Ma-đơ-len nhớ lại, ngày Chúa Giê-xu bị đóng đinh trên thập tự giá, khi Chúa trút linh hồn thì mặt đất rung động và đá nứt ra, làm mọi người kinh sợ. Chính viên đội trưởng của bọn lính cũng phải thốt lên: “Người này chính là Con Đức Chúa Trời”. Cô không hiểu hai trận động đất này có gì liên quan nhau không nhưng trong lòng thấy có điều gì thật lạ, nó thúc giục cô hãy nhanh chân chạy đến mộ Chúa.
Khi họ đến nơi thì thấy hòn đá chặn cửa mộ đã lăn sang một bên. Ma-ri Ma-đơ-len nói:
- Hòn đá lớn thế này, ai lăn nó ra vậy?
- Chắc chắn không phải hững người lính canh rồi! - Ma-ri nói.
Họ tự hỏi lẫn nhau, nhưng chẳng ai biết trả lời như thế nào cả. Khi nhìn vào trong ngôi mộ, họ sững sờ, ai đã lấy xác Chúa đi rồi. Cả ba vội vàng chạy về, tìm gặp sứ đồ Phi-e-rơ, người có uy tín nhất trong các sứ đồ.
Ma-ri Ma-đơ-len nói:
- Người ta đã dời Chúa khỏi mộ, chẳng hay để Ngài tại đâu?
Phi-e-rơ hỏi lại:
- Có thật vậy không?
- Thật, chúng tôi vừa đến thì thấy hòn đá cửa mộ đã bị lăn ra, không thấy xác Chúa đâu cả.
Phi-e-rơ và Giăng vội vàng theo các người phụ nữ chạy ra mộ Chúa để xem thế nào. Giăng vốn người trẻ tuổi, nhanh nhẹn hơn Phi-e-rơ nên ông đến trước, đứng ở cửa mộ nhìn vào, ông thấy những tấm vải liệm đã được bỏ ra, xác Chúa không còn. Phi-e-rơ đến sau, ông tức tốc chạy vào trong ngôi mộ, thấy vải bỏ dưới đất, và cái khăn liệm trùm đầu Chúa Giê-xu chẳng ở cùng một chỗ với vải, nhưng cuốn lại để riêng ra một nơi khác. Ông rất bàng hoàng với những gì đã xảy ra trước mắt. Giăng đến bên ông, thì thầm:
- Đúng là kỳ lạ, anh Phi-e-rơ.
- Đúng vậy.
- Chúng ta về nhà thôi.
Ma-ri Ma-đơ-len quay lại một lần nữa, cô nhìn vào ngôi mộ trống. Lòng cô buồn lắm vì Chúa Giê-xu của cô đã không còn ở đây, có người nào đem xác Ngài đi không? Vì sao họ làm vậy? Những tảng đá trong ngôi mộ vô tri vô giác này sẽ đem lại cho cô điều gì đây?
Bỗng nhiên, một cảnh tượng lạ thường mà cô không thể nào tưởng tượng nổi, có hai vị thiên sứ, một ở đầu, một ở dưới chân chỗ đặt xác Chúa, xuất hiện. Y phục họ trắng toát, sáng láng khiến Ma-ri Ma-đơ-len không khỏi chói mắt.
Một trong hai người hỏi:
- Hỡi cô kia, sao cô khóc?
Ma-ri Ma-đơ-len lau nước mắt, thưa rằng:
- Vì người ta đã dời Chúa tôi đi, không biết để Ngài ở đâu.
Hai thiên sứ nhìn cô, nhưng trong ánh mắt họ, cô thấy sự cảm thông, dịu dàng.
- Đừng sợ, chúng tôi biết các cô tìm kiếm Chúa Giê-xu, Đấng đã bị đóng đinh. Ngài không còn ở đây đâu, Ngài đã sống lại như lời Ngài đã bảo trước. Hãy đến xem nơi đặt xác Ngài. Hãy mau mau đi báo cho các môn đệ Ngài biết: “Ngài đã sống lại. Kìa Ngài đã đi đến Ga-li-lê trước các ông. Ở đó các ông sẽ thấy Ngài”. Này, tôi đã nói cho các cô biết.
Rồi họ nhìn ra phía ngoài ngôi mộ, cô xây người nhìn theo, có một người đứng ở đó, hình như là người làm vườn. Ông ta hỏi:
- Này cô kia, sao cô khóc? Cô tìm ai?
- Hỡi chúa, nếu thật ông là kẻ đã đem Ngài đi, xin nói cho tôi biết ông để Ngài đâu, thì tôi sẽ đến mà lấy. Ma-ri Ma-đơ-len nói mà nước mắt cứ tuôn dài.
- Hỡi Ma-ri! Ma-ri bèn xây lại, ô, đúng là Chúa Giê-xu, Ngài đang đứng trước mặt cô. Mừng rỡ, cô lấy tiếng Hê-bơ-rơ mà thưa rằng:
- Ra-bu-ni!
Chúa Giê-xu phán rằng:
- Chớ rờ đến ta; vì ta chưa lên cùng Cha! Nhưng hãy đi đến cùng anh em ta, nói rằng ta lên cùng Cha ta và Cha các ngươi, cùng Đức Chúa Trời ta và Đức Chúa Trời các ngươi.
Ma-ri Ma-đơ-len vội vàng chạy đi. Lần này, cô biết chắc Chúa Giê-xu đã thật sự sống lại, Ngài hiện ra và nói chuyện với cô như một người bình thường. Một sự thay đổi lớn trong tâm lòng cô. Một sự vui sướng, hạnh phúc vô cùng. Chúa của cô đã vượt qua sự chết, sống lại một cách khải hoàn, y như lời Ngài đã phán trước đây. Những lo lắng, phiền muộn đã tan biến tự lúc nào, bây giờ là những giây phút tự hào, vui sướng. Bước chân của Ma-ri Ma-đơ-len trở nên thanh thoát, nhẹ nhàng. Cô đã nhìn thấy Chúa, cô muốn chạy thật nhanh về để thuật lại với các anh chị em những gì mình đã chứng kiến...
Ở một góc vườn, cái giỏ thuốc thơm bị bỏ quên lại. Một ngày vừa lên, những vạt nắng vàng đã trải dài trên các ngọn lá, cành cây. Những tia nắng vẫn đang cùng theo Ma-ri Ma-đơ-len trong từng nhịp chân. Những tia nắng của một ngày mới thật là đẹp, nó sáng trong, thơm nồng hương của đất trời, dịu dàng ôm nhẹ làn gió mát lành hơi sương sớm. Tia nắng sớm đẹp như tấm lòng thơm thảo của những người hết lòng yêu kính Chúa. Vâng, những con người hết lòng yêu kính Chúa.
Vũ Hướng Dương
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)